Thêm 4 ngành đào tạo khối sức khỏe buộc phải có phòng thí nghiệm, thực hành

17/07/2026 06:22
Doãn Nhàn

GDVN - Thông tư 54/2026/TT-BGDĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo bổ sung điều kiện về cơ sở thực hành đối với 4 ngành đào tạo, nâng số phòng thí nghiệm, thực hành bắt buộc từ 38 lên 51.

Bộ Giáo dục và Đào tạo vừa ban hành Thông tư số 54/2026/TT-BGDĐT quy định về chương trình đào tạo các trình độ của giáo dục đại học. Thông tư đồng thời thay thế hàng loạt quy định trước đây về chuẩn chương trình đào tạo, giáo trình và điều kiện mở ngành đào tạo.

Cụ thể, Thông tư 54 thay thế Thông tư số 17/2021/TT-BGDĐT quy định về chuẩn chương trình đào tạo, xây dựng, thẩm định và ban hành chương trình đào tạo các trình độ của giáo dục đại học; Thông tư số 35/2021/TT-BGDĐT quy định việc biên soạn, lựa chọn, thẩm định, duyệt và sử dụng tài liệu giảng dạy, giáo trình giáo dục đại học; Thông tư số 02/2022/TT-BGDĐT quy định về điều kiện, trình tự, thủ tục mở ngành đào tạo, đình chỉ tuyển sinh, đình chỉ hoạt động đào tạo các trình độ của giáo dục đại học; và Thông tư số 12/2024/TT-BGDĐT sửa đổi, bổ sung Thông tư số 02/2022/TT-BGDĐT.

Đối với các chương trình đào tạo thuộc lĩnh vực sức khỏe, Thông tư quy định cơ sở thực hành phải đáp ứng yêu cầu của pháp luật về khám bệnh, chữa bệnh, đồng thời bảo đảm các tiêu chí cụ thể tại Phụ lục III ban hành kèm theo Thông tư và các quy định của Chuẩn cơ sở giáo dục đại học.

Ảnh minh họa: Giảng viên và sinh viên Đại học Phenikaa
Ảnh minh họa: Giảng viên và sinh viên Đại học Phenikaa

Giữ nguyên yêu cầu về đội ngũ giảng viên

Đối chiếu với quy định mở ngành theo Thông tư số 02/2022/TT-BGDĐT, yêu cầu về đội ngũ giảng viên toàn thời gian tham gia giảng dạy và trình độ chuyên môn không có sự thay đổi.

Theo đó, số lượng tiến sĩ tối thiểu theo từng chuyên môn đối với các chương trình đào tạo Y khoa, Y học cổ truyền, Răng Hàm Mặt, Y học dự phòng và Dược học vẫn được giữ nguyên.

Chẳng hạn, chương trình đào tạo Y khoa vẫn phải có tối thiểu: 2 tiến sĩ chuyên ngành Khoa học y sinh; 2 tiến sĩ Ngoại khoa; 2 tiến sĩ Nội khoa; 1 tiến sĩ Nhi khoa; 1 tiến sĩ Y học dự phòng/Y tế công cộng; 1 tiến sĩ Sản phụ khoa; 3 tiến sĩ thuộc các chuyên khoa nội khác; 3 tiến sĩ thuộc các chuyên khoa ngoại khác.

Tương tự, các yêu cầu đối với chương trình Y học cổ truyền, Răng Hàm Mặt, Y học dự phòng và Dược học cũng được giữ nguyên như quy định tại Thông tư số 02/2022/TT-BGDĐT.

Quy định về đội ngũ giảng viên toàn thời gian tham gia giảng dạy và trình độ chuyên môn, theo Thông tư số 54/2026/TT-BGDĐT.
Quy định về đội ngũ giảng viên toàn thời gian tham gia giảng dạy và trình độ chuyên môn, theo Thông tư số 54/2026/TT-BGDĐT.

Bổ sung tiêu chuẩn cơ sở vật chất với 4 ngành đào tạo lĩnh vực sức khỏe

Điểm thay đổi đáng chú ý nhất của Thông tư số 54/2026/TT-BGDĐT nằm ở điều kiện về cơ sở thực hành.

Nếu như Thông tư số 02/2022/TT-BGDĐT chỉ quy định yêu cầu phòng thí nghiệm, thực hành đối với 7 ngành, gồm: Y khoa; Y học cổ truyền; Răng Hàm Mặt; Y học dự phòng; Điều dưỡng; Hộ sinh; Dược học thì Thông tư số 54/2026/TT-BGDĐT đã mở rộng phạm vi áp dụng thêm 4 ngành, gồm: Kỹ thuật Phục hình răng; Kỹ thuật Xét nghiệm y học; Kỹ thuật Hình ảnh y học; Kỹ thuật Phục hồi chức năng.

Việc bổ sung này đồng nghĩa các cơ sở giáo dục đại học muốn mở các ngành trên sẽ phải đáp ứng đầy đủ yêu cầu về hệ thống phòng thí nghiệm, phòng thực hành và trung tâm thực hành chuyên biệt theo quy định.

Cùng với việc bổ sung 4 ngành đào tạo, danh mục phòng thí nghiệm, thực hành bắt buộc cũng được mở rộng đáng kể.

Theo Thông tư số 02/2022/TT-BGDĐT, cơ sở đào tạo phải đáp ứng 38 phòng thí nghiệm, thực hành.

Đến Thông tư số 54/2026/TT-BGDĐT, con số này tăng lên 51 phòng, tức bổ sung thêm 13 loại phòng thực hành chuyên sâu.

Các phòng thí nghiệm, thực hành mới chủ yếu phục vụ những ngành kỹ thuật y học vừa được bổ sung, gồm: Labo Kỹ thuật phục hình răng; Trung tâm tiền lâm sàng dành cho ngành Kỹ thuật Phục hồi chức năng; Phòng Huyết học; Phòng Vi sinh; Phòng Ký sinh trùng; Phòng Sinh học phân tử; Phòng Xét nghiệm tế bào; Phòng Kỹ thuật siêu âm; Phòng X-quang đại khoa; Phòng X-quang chuyên khoa; Phòng kiến tập X-quang can thiệp; Phòng Chụp cắt lớp vi tính (CT); Phòng Chụp cộng hưởng từ (MRI); Phòng Y học hạt nhân - xạ trị.

Ngoài việc bổ sung phòng mới, một số phòng thực hành hiện có cũng được điều chỉnh phạm vi sử dụng. Chẳng hạn, phòng Sinh học và di truyền y học được đổi thành Sinh học và di truyền y học mô phôi, đồng thời mở rộng áp dụng cho các ngành Kỹ thuật Xét nghiệm y học, Kỹ thuật Hình ảnh y học và Kỹ thuật Phục hồi chức năng.

Tương tự, các phòng Lý sinh, Giải phẫu, Hóa sinh, Điều dưỡng cơ bản... cũng được bổ sung yêu cầu đối với một số ngành kỹ thuật sức khỏe mới.

Chi tiết yêu cầu về cơ sở thực hành, cơ sở đào tạo thực hành, theo Thông tư số 54/2026/TT-BGDĐT.
Chi tiết yêu cầu về cơ sở thực hành, cơ sở đào tạo thực hành, theo Thông tư số 54/2026/TT-BGDĐT.

Chi tiết Thông tư số 54/2026/TT-BGDĐT: TẠI ĐÂY

Nguyên tắc đo lường, đánh giá chuẩn đầu ra chương trình đào tạo (theo Phụ lục II, Thông tư số 54/2026/TT-BGDĐT)

1. Việc đo lường, đánh giá mức độ đạt chuẩn đầu ra nhằm xác định mức độ đáp ứng của người học đối với chuẩn đầu ra của học phần và chương trình đào tạo; làm căn cứ cải tiến hoạt động giảng dạy, học tập, kiểm tra, đánh giá, chương trình đào tạo và thực hiện trách nhiệm giải trình của cơ sở đào tạo.

2. Chuẩn đầu ra của chương trình đào tạo phải được liên kết với chuẩn đầu ra của các học phần thông qua ma trận liên kết hoặc phương thức phù hợp do cơ sở đào tạo quy định.

3. Việc xác định mức độ đạt chuẩn đầu ra của chương trình đào tạo được thực hiện trên cơ sở kết hợp các phương pháp đánh giá trực tiếp và gián tiếp từ các nguồn dữ liệu, minh chứng phù hợp.

4. Cơ sở đào tạo quy định ngưỡng đạt, thang đo, công cụ đánh giá, trọng số, phương pháp tổng hợp kết quả và cách thức xác định mức độ đạt chuẩn đầu ra phù hợp với mục tiêu, chuẩn đầu rara và đặc thù của chương trình đào tạo; bảo đảm tính khách quan, nhất quán, khả thi, minh bạch và công khai.

5. Cơ sở đào tạo được lựa chọn hoặc xây dựng phương pháp xác định mức độ đạt chuẩn đầu ra phù hợp với mục tiêu, chuẩn đầu ra và đặc thù của chương trình đào tạo; bảo đảm có căn cứ, minh chứng và khả năng đối sánh kết quả theo quy định nội bộ.

6. Cơ sở đào tạo ban hành văn bản hướng dẫn về đo lường, đánh giá mức độ đạt chuẩn đầu ra; quy định rõ quy trình thu thập dữ liệu, xử lý kết quả, quản lý minh chứng và sử dụng kết quả đánh giá để cải tiến chất lượng chương trình đào tạo.

Doãn Nhàn