Chính phủ đã ban hành Nghị định 232/2026/NĐ-CP quy định về vị trí việc làm viên chức và Nghị định 259/2026/NĐ-CP quy định về tuyển dụng, sử dụng và quản lý viên chức, cùng có hiệu lực từ ngày 01/7/2026.
Những quy định mới đánh dấu bước chuyển từ quản lý viên chức theo hạng chức danh nghề nghiệp sang quản lý theo vị trí việc làm và bậc nghề nghiệp, thu hút sự quan tâm của nhiều giáo viên đang chờ cơ hội phát triển nghề nghiệp.
Không còn phân hạng I, II, III mà chuyển sang bậc nghề nghiệp
Một trong những thay đổi đáng chú ý nhất của Nghị định 232/2026/NĐ-CP là không còn quản lý viên chức theo hạng chức danh nghề nghiệp như trước đây.
Tại Điều 7. Bậc nghề nghiệp của vị trí việc làm quy định:
a) Bậc 1 áp dụng lương viên chức loại B;
b) Bậc 2 áp dụng lương viên chức loại A0;
c) Bậc 3 áp dụng lương viên chức loại A1;
d) Bậc 4 áp dụng lương viên chức loại A2, nhóm 1 (A2.1);
đ) Bậc 5 áp dụng lương viên chức loại A3, nhóm 1 (A3.1).
Như vậy, thay vì giáo viên được gọi là hạng III, hạng II hay hạng I, việc quản lý sẽ chuyển sang các bậc nghề nghiệp tương ứng với từng vị trí việc làm và thang lương áp dụng. Cụ thể, giáo viên phổ thông hạng 1, 2 sẽ được chuyển sang bậc 4 và hạng 3 được chuyển sang bậc 3.
Đây không đơn thuần là sự thay đổi về tên gọi mà là bước chuyển sang mô hình quản trị nhân sự mới, lấy vị trí việc làm làm trung tâm, gắn việc sử dụng nhân lực với nhu cầu thực tế của từng đơn vị sự nghiệp công lập.
Giáo viên muốn lên bậc nghề nghiệp cao hơn phải đáp ứng nhiều điều kiện
Điều mà nhiều giáo viên quan tâm nhất là việc chuyển sang bậc nghề nghiệp có tạo cơ hội cho những người nhiều năm chưa được thăng hạng hay không.
Câu trả lời là có cơ hội, nhưng giáo viên phải đáp ứng được các yêu cầu theo quy định chung.
Điều 25 Nghị định 259/2026/NĐ-CP đã quy định rất rõ điều kiện để viên chức được xem xét thay đổi bậc nghề nghiệp từ thấp lên cao.
Khoản 4 Điều 25 nêu rõ:
Viên chức được xem xét thay đổi bậc nghề nghiệp của vị trí việc làm từ thấp lên cao khi đáp ứng đủ các điều kiện sau:
a) Đơn vị sự nghiệp công lập có nhu cầu sử dụng viên chức ở bậc nghề nghiệp cao hơn;
b) Còn số lượng theo tỷ lệ viên chức bố trí theo bậc nghề nghiệp của vị trí việc làm đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt;
c) Được xếp loại chất lượng ở mức hoàn thành tốt nhiệm vụ trở lên trong năm công tác liền kề trước năm thay đổi bậc nghề nghiệp của vị trí việc làm;
d) Không đang trong thời hạn xử lý kỷ luật; không đang trong thời gian chấp hành quyết định kỷ luật; không đang trong thời gian bị khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử; không đang trong thời gian thực hiện các quy định liên quan đến kỷ luật theo quy định của Đảng và của pháp luật;
đ) Có kết quả thực hiện nhiệm vụ đáp ứng yêu cầu của bậc nghề nghiệp dự kiến bố trí theo tiêu chí đánh giá khi thay đổi bậc nghề nghiệp của vị trí việc làm quy định tại khoản 8 Điều này.
Có thể thấy, quy định trên yêu cầu đồng thời nhiều yếu tố, từ nhu cầu của đơn vị, cơ cấu bậc nghề nghiệp, kết quả đánh giá hằng năm đến năng lực thực hiện nhiệm vụ.
Trong đó, điều kiện "Đơn vị sự nghiệp công lập có nhu cầu sử dụng viên chức ở bậc nghề nghiệp cao hơn" cho thấy việc thay đổi bậc nghề nghiệp phải xuất phát từ yêu cầu thực tế của đơn vị.
Chẳng hạn, khi nhà trường cần bố trí giáo viên đảm nhiệm các nhiệm vụ đòi hỏi trình độ và năng lực cao hơn như quản lý chuyên môn, bồi dưỡng học sinh giỏi, hướng dẫn giáo viên hoặc thực hiện những nhiệm vụ chuyên môn trọng tâm khác, đơn vị có thể xem xét nhu cầu sử dụng viên chức ở bậc nghề nghiệp cao hơn.
Điều này cũng cho thấy, giáo viên đang ở bậc nghề nghiệp thấp hơn, chẳng hạn bậc 3 (tương đương hạng 3), vẫn có cơ hội được xem xét bố trí lên bậc 4 (tương đương hạng 1, 2) khi nhà trường phát sinh nhu cầu sử dụng và đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo quy định.
Chỉ tiêu vẫn là yếu tố quyết định
Nếu trước đây nhiều giáo viên lo ngại vì chỉ tiêu thăng hạng hạn chế thì trong cơ chế mới, yếu tố về cơ cấu vẫn tiếp tục được đặt ra.
Điều 10 Nghị định 232/2026/NĐ-CP quy định (trích):
2. Tỷ lệ viên chức bố trí theo bậc nghề nghiệp của vị trí việc làm trong đơn vị sự nghiệp công lập thực hiện như sau:
b) Trường hợp vị trí việc làm có bậc sử dụng cao nhất là bậc 4 thì tỷ lệ ở bậc 4 không vượt quá 40% tổng số biên chế viên chức được cấp có thẩm quyền giao cho vị trí việc làm đó.
Như vậy, dù đáp ứng đầy đủ điều kiện chuyên môn, giáo viên vẫn phải phụ thuộc vào cơ cấu bậc nghề nghiệp đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt.
Nếu đơn vị đã sử dụng hết tỷ lệ ở bậc cao thì việc thay đổi bậc nghề nghiệp sẽ phải chờ khi có chỉ tiêu (chẳng hạn giáo viên chuyển công tác, về hưu) hoặc điều chỉnh cơ cấu.
Quy định này nhằm bảo đảm cơ cấu đội ngũ ở từng bậc nghề nghiệp được phân bổ hợp lý, tránh tình trạng tập trung quá nhiều viên chức ở bậc cao, đồng thời vẫn duy trì lộ trình phát triển nghề nghiệp cho đội ngũ ở các bậc còn lại.
Giáo viên cần chuẩn bị gì?
Việc thay đổi cơ chế quản lý cũng đặt ra yêu cầu để mỗi giáo viên tiếp tục nâng cao năng lực nhằm đáp ứng điều kiện thay đổi bậc nghề nghiệp.
Bên cạnh việc hoàn thành tốt nhiệm vụ hằng năm, mỗi giáo viên cần chủ động nâng cao năng lực chuyên môn, đổi mới phương pháp dạy học, ứng dụng công nghệ thông tin, tham gia các hoạt động chuyên môn của nhà trường và tích lũy minh chứng về kết quả thực hiện nhiệm vụ.
Đồng thời, các cơ sở giáo dục cũng cần xây dựng tiêu chí đánh giá minh bạch, khách quan; rà soát nhu cầu sử dụng đội ngũ để bảo đảm việc bố trí bậc nghề nghiệp vừa đúng quy định, vừa tạo động lực phấn đấu cho giáo viên.
Nhìn chung, việc chuyển từ cơ chế thăng hạng chức danh nghề nghiệp sang thay đổi bậc nghề nghiệp của vị trí việc làm là một bước cải cách lớn trong quản lý viên chức.
Với những giáo viên nhiều năm chưa được thăng hạng, đây có thể xem là cơ hội mới để được xem xét bố trí ở bậc nghề nghiệp cao hơn nếu đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo quy định.
Tài liệu tham khảo:
https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Bo-may-hanh-chinh/Nghi-dinh-232-2026-ND-CP-vi-tri-viec-lam-vien-chuc-712592.aspx
https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Bo-may-hanh-chinh/Nghi-dinh-259-2026-ND-CP-tuyen-dung-su-dung-va-quan-ly-vien-chuc-713417.aspx
(*) Văn phong, nội dung bài viết thể hiện góc nhìn, quan điểm của tác giả.