Thi tốt nghiệp: Hơn 1/2 học sinh có điểm Tiếng Anh dưới trung bình, khoảng cách vùng miền vẫn rõ nét

27/07/2026 13:39
Doãn Nhàn

GDVN - Dù công tác dạy và học ngoại ngữ đã có nhiều chuyển biến, kết quả các kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông gần đây cho thấy mặt bằng điểm môn Tiếng Anh vẫn còn thấp và chênh lệch đáng kể giữa các địa phương.

Thực tế này cho thấy, để nâng cao năng lực ngoại ngữ cho học sinh và tiến tới mục tiêu đưa Tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học, việc đổi mới không thể chỉ tập trung ở bậc trung học phổ thông hoặc giai đoạn ôn thi cuối cấp. Năng lực ngoại ngữ cần được hình thành từ sớm, đặc biệt từ bậc tiểu học, và bồi đắp liên tục, có tính kế thừa trong suốt quá trình học phổ thông.

Cứ hai thí sinh có hơn một em đạt dưới 5 điểm môn Tiếng Anh trong kỳ thi tốt nghiệp 2026

1.png

Trong kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông năm 2025, điểm trung bình môn Tiếng Anh của cả nước đạt 5,38 điểm; điểm trung vị và mức điểm có nhiều thí sinh đạt nhất đều ở mức 5,25 điểm. Có 38,22% bài thi dưới điểm trung bình và cả nước chỉ ghi nhận 141 bài thi đạt điểm 10.

Sang năm 2026, các chỉ số đều giảm. Điểm trung bình còn 5,07 điểm, điểm trung vị xuống 4,75 điểm, trong khi mức điểm xuất hiện nhiều nhất chỉ còn 4,25 điểm.

Đáng chú ý, có 168.105 thí sinh, tương ứng 50,249%, đạt dưới 5 điểm. Điều này đồng nghĩa cứ hai thí sinh dự thi môn tiếng Anh thì có hơn một em có điểm dưới trung bình, cho thấy mặt bằng năng lực Tiếng Anh của học sinh vẫn còn nhiều hạn chế.

Các đô thị tiếp tục dẫn đầu, nhóm địa phương khó khăn vẫn ở cuối bảng

du-lieu-bo-giao-duc-va-dao-tao.png

Không chỉ thấp về mặt bằng chung, kết quả môn Tiếng Anh còn cho thấy sự phân hóa rõ rệt giữa các địa phương. Đối chiếu kết quả hai năm cho thấy, bức tranh phân hóa giữa các địa phương ít thay đổi.

Ở nhóm có điểm trung bình cao nhất, Hà Nội tiếp tục dẫn đầu cả nước với 5,549 điểm, dù giảm so với mức 5,78 điểm của năm 2025. Tuyên Quang là địa phương có bước bứt phá đáng chú ý khi vươn lên vị trí thứ hai với 5,397 điểm, trong khi Thành phố Hồ Chí Minh xếp thứ ba với 5,369 điểm. Bên cạnh đó, nhiều địa phương có truyền thống và chất lượng giáo dục ổn định như Quảng Ninh, Nghệ An, Hải Phòng, Hà Tĩnh tiếp tục duy trì vị trí trong nhóm 10 địa phương có điểm trung bình cao nhất cả nước.

Ở chiều ngược lại, nhóm cuối bảng gần như không có nhiều thay đổi so với năm trước. Các địa phương như An Giang, Cao Bằng, Tây Ninh, Vĩnh Long, Cà Mau, Lai Châu, Gia Lai, Đồng Tháp, Đắk Lắk và Lâm Đồng tiếp tục nằm trong nhóm có điểm trung bình thấp nhất.

Sự phân hóa này còn thể hiện rõ qua số lượng điểm tuyệt đối. Nếu năm 2025 cả nước chỉ có 141 bài thi đạt điểm 10, thì năm 2026 con số này tăng lên 311 bài, cao gấp khoảng 2,2 lần.

Tuy nhiên, phần lớn điểm 10 vẫn tập trung ở một số địa phương có điều kiện giáo dục thuận lợi. Riêng Hà Nội có 118 bài thi đạt điểm 10 và Thành phố Hồ Chí Minh có 88 bài, tổng cộng 206 bài, chiếm khoảng 66,2% tổng số điểm 10 của cả nước.

Trong khi đó, Cao Bằng, Điện Biên, Lai Châu, Lạng Sơn và Cà Mau không có thí sinh nào đạt điểm 10.

Các con số cho thấy sự chênh lệch không chỉ nằm ở điểm trung bình mà còn thể hiện trong khả năng hình thành nhóm học sinh có năng lực ngoại ngữ nổi trội. Những học sinh đạt kết quả cao vẫn tập trung chủ yếu tại các địa phương có điều kiện học tập, học liệu, đội ngũ giáo viên và môi trường sử dụng Tiếng Anh thuận lợi hơn.

Kết quả thi tốt nghiệp trung học phổ thông chưa phản ánh đầy đủ toàn bộ năng lực nghe, nói, đọc, viết của học sinh. Tuy nhiên, các số liệu vẫn cho thấy một bộ phận lớn học sinh chưa đạt được nền tảng kiến thức và kỹ năng cần thiết để đáp ứng yêu cầu của bài thi sau nhiều năm học Tiếng Anh trong nhà trường.

Đây không chỉ là vấn đề của ba năm trung học phổ thông. Theo Chương trình giáo dục phổ thông 2018, Tiếng Anh là môn học bắt buộc từ lớp 3 đến lớp 12; nội dung ở mỗi cấp học được xây dựng trên cơ sở kế thừa và phát triển năng lực đã hình thành ở giai đoạn trước. Vì vậy, kết quả ở cuối lớp 12 là sản phẩm tích lũy của một quá trình học tập kéo dài gần 10 năm, bắt đầu từ bậc tiểu học.

Dữ liệu từ kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông vì vậy đặt ra yêu cầu tìm lời giải không chỉ từ hoạt động ôn thi ở lớp 12, mà từ toàn bộ quá trình tổ chức dạy và học ngoại ngữ trong nhà trường.

Nhà trường đổi mới nhưng điều kiện học tập vẫn tạo ra khác biệt

Trao đổi với Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, cô Võ Thị Cúc - Tổ trưởng chuyên môn Tổ Tiếng Anh, Trường Trung học phổ thông Lê Lợi, tỉnh Gia Lai, cho biết những năm gần đây, nhà trường đã triển khai nhiều giải pháp nhằm nâng cao chất lượng dạy và học môn Tiếng Anh theo định hướng phát triển năng lực, thay vì chỉ hướng đến mục tiêu đạt điểm cao trong các kỳ thi.

Theo cô Cúc, cùng với việc đầu tư thiết bị dạy học, bổ sung học liệu và khai thác các nguồn tài nguyên số, tổ chuyên môn chú trọng đổi mới phương pháp giảng dạy theo hướng lấy học sinh làm trung tâm.

Giáo viên tăng cường các hoạt động giao tiếp, làm việc nhóm, thuyết trình và ứng dụng công nghệ trong từng tiết học để tạo cơ hội cho học sinh sử dụng Tiếng Anh nhiều hơn.

Ngoài giờ học, Câu lạc bộ Tiếng Anh của trường thường xuyên tổ chức các hoạt động như hùng biện, thiết kế poster, sáng tác video và giao lưu bằng Tiếng Anh, qua đó giúp học sinh rèn luyện kỹ năng trong môi trường gần với thực tế.

Theo cô Cúc, những đổi mới này đã góp phần duy trì thành tích học sinh giỏi môn Tiếng Anh của nhà trường trong nhiều năm. Quan trọng hơn, ngày càng nhiều học sinh tự tin giao tiếp và chủ động sử dụng ngoại ngữ trong các hoạt động học tập.

Học sinh Trường Trung học phổ thông Lê Lợi (Gia Lai) trong giờ Tiếng Anh. Ảnh: NVCC
Học sinh Trường Trung học phổ thông Lê Lợi (Gia Lai) trong giờ Tiếng Anh. Ảnh: NVCC

Tuy nhiên, nữ giáo viên cho rằng kết quả học tập môn Tiếng Anh vẫn chịu ảnh hưởng đáng kể từ điều kiện giáo dục của từng địa phương.

“Sự nỗ lực của học sinh luôn là yếu tố quan trọng nhất, nhưng điều kiện học tập cũng ảnh hưởng rất lớn đến kết quả. Những nơi có cơ sở vật chất tốt, học liệu phong phú và nhiều cơ hội sử dụng Tiếng Anh sẽ tạo điều kiện để học sinh phát triển đồng đều các kỹ năng.

Ngược lại, ở những địa phương còn khó khăn, nhiều em chủ yếu học trong phạm vi lớp học, ít có cơ hội giao tiếp hoặc tham gia các hoạt động ngoại ngữ. Điều kiện kinh tế của gia đình cũng phần nào ảnh hưởng đến khả năng đầu tư cho việc học”, cô Cúc phân tích.

Theo cô, ngay trong cùng một lớp học cũng tồn tại sự chênh lệch khá lớn về trình độ. Nhiều học sinh chưa hình thành được thói quen tự học, trong khi môi trường sử dụng Tiếng Anh ngoài nhà trường còn hạn chế, khiến các em thiếu tự tin khi giao tiếp.

Điều này đặt ra yêu cầu giáo viên phải liên tục đổi mới phương pháp, đồng thời các nhà trường cần được hỗ trợ thêm về học liệu, cơ sở vật chất và môi trường thực hành ngoại ngữ.

Những khác biệt về điều kiện học tập không chỉ xuất hiện ở bậc trung học phổ thông mà đã hình thành từ khi học sinh bắt đầu học Tiếng Anh ở tiểu học và tiếp tục tích lũy qua từng cấp học.

Nếu không được tiếp cận đầy đủ với giáo viên, học liệu và môi trường thực hành ngay từ giai đoạn đầu, học sinh có thể bước vào các cấp học sau với nền tảng chưa vững. Khi khoảng trống kiến thức và kỹ năng ngày càng lớn, việc khắc phục ở cuối cấp sẽ trở nên khó khăn hơn, dù nhà trường và giáo viên đã có nhiều nỗ lực đổi mới.

Cần tạo môi trường sử dụng Tiếng Anh từ sớm

Sinh hoạt Câu lạc bộ ngoại ngữ, Trường Trung học phổ thông Nguyễn Chí Thanh. Ảnh: FBNT
Sinh hoạt Câu lạc bộ ngoại ngữ, Trường Trung học phổ thông Nguyễn Chí Thanh. Ảnh: FBNT

Từ thực tiễn giảng dạy tại Tây Ninh, thầy Lưu Đình Thống - giáo viên Tiếng Anh Trường Trung học phổ thông Nguyễn Chí Thanh cho rằng, cùng với việc nâng cao chất lượng các tiết học trên lớp, nhà trường cần mở rộng câu lạc bộ, hoạt động giao lưu và trải nghiệm bằng Tiếng Anh để học sinh có thêm cơ hội thực hành.

Nếu học sinh được tiếp cận Tiếng Anh từ sớm, có môi trường sử dụng thường xuyên ngay từ bậc tiểu học và tiếp tục được phát triển xuyên suốt ở trung học cơ sở, trung học phổ thông, các kỹ năng nghe, nói, đọc, viết sẽ được hình thành tự nhiên hơn, thay vì chỉ phục vụ việc làm bài kiểm tra.

“Khi các em được sử dụng Tiếng Anh thường xuyên trong những tình huống thực tế, việc học sẽ trở nên tự nhiên và hiệu quả hơn. Nếu chỉ đặt nặng điểm số hay áp lực thi cử, rất dễ tạo tâm lý e ngại, làm giảm động lực học tập”, thầy Thống nhận định.

Theo giáo viên này, việc tạo môi trường sử dụng Tiếng Anh trong nhà trường có ý nghĩa đặc biệt đối với học sinh ở những địa bàn còn hạn chế về trung tâm ngoại ngữ, học liệu và điều kiện học thêm.

Trong lộ trình đưa Tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học, thu hẹp chênh lệch về điều kiện dạy học và cơ hội tiếp cận ngoại ngữ giữa các vùng, miền là yếu tố quan trọng để nâng cao mặt bằng năng lực của học sinh.

Kết quả thi tốt nghiệp trung học phổ thông chỉ là điểm cuối của một quá trình kéo dài nhiều năm. Vì vậy, việc cải thiện năng lực Tiếng Anh không thể chờ đến lớp 12 mới củng cố kiến thức hoặc tăng cường ôn luyện, mà cần bắt đầu từ tiểu học, tiếp tục được bồi đắp liên tục và có tính liên thông giữa các cấp học.

Doãn Nhàn