Hiệu trưởng, phó hiệu trưởng dôi dư sau sắp xếp: Trường hợp nào được nghỉ theo Nghị định 154?

09/08/2026 07:01
Bùi Nam

GDVN - Theo Nghị quyết 37/2026/NQ-CP sau khi các hiệu trưởng, phó hiệu trưởng cũ không được bổ nhiệm mới sẽ quay trở lại làm nhà giáo hoặc các vị trí khác phù hợp hoặc được Nghỉ hưởng chế độ theo Nghị định 154.

Ngày 05/8/2026, Chính phủ ban hành Nghị quyết 37/2026/NQ-CP về cơ cấu, số lượng và một số chính sách đối với hiệu trưởng, giám đốc, phó hiệu trưởng, phó giám đốc, nhân sự hỗ trợ giáo dục khi thực hiện sắp xếp cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông, thường xuyên, giáo dục nghề nghiệp công lập cấp tỉnh, cấp xã.

Theo đó, Nghị quyết này quy định về cơ cấu, số lượng và một số chính sách đối với hiệu trưởng, giám đốc, phó hiệu trưởng, phó giám đốc, nhân sự hỗ trợ giáo dục khi thực hiện sắp xếp các cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục thường xuyên và giáo dục nghề nghiệp công lập (sau đây gọi là cơ sở giáo dục) thuộc thẩm quyền quản lý của ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp xã.

tinh-gian-bien-che-16857920071032130799371.jpg
Ảnh minh họa

Nghị quyết 37 quy định bố trí hiệu trưởng, phó hiệu trưởng dôi dư sau sáp nhập ra sao?

Tại Điều 4 Nghị quyết 37/2026/NQ-CP quy định cơ cấu, số lượng, chế độ bảo lưu phụ cấp chức vụ đối với hiệu trưởng, giám đốc, phó hiệu trưởng, phó giám đốc như sau:

1. Hiệu trưởng hoặc giám đốc: Mỗi cơ sở giáo dục có 01 hiệu trưởng hoặc 01 giám đốc.

2. Phó hiệu trưởng hoặc phó giám đốc:

a) Đối với cơ sở giáo dục mầm non, cơ sở giáo dục phổ thông, trung tâm giáo dục thường xuyên: Trường chính được bố trí 01 phó hiệu trưởng hoặc 01 phó giám đốc; mỗi phân hiệu được bố trí 01 phó hiệu trưởng hoặc 01 phó giám đốc;

b) Đối với trường trung cấp, trường trung học nghề: số lượng phó hiệu trưởng thực hiện theo quy định của pháp luật về số lượng cấp phó;

c) Đối với trung tâm giáo dục nghề nghiệp - giáo dục thường xuyên: Trụ sở chính được bố trí 01 phó giám đốc, mỗi phân hiệu được bố trí 01 phó giám đốc.

3. Sau khi sắp xếp theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này, số hiệu trưởng, giám đốc, phó hiệu trưởng, phó giám đốc còn lại của các cơ sở giáo dục trước khi sắp xếp được bố trí như sau:

a) Bố trí vào vị trí việc làm nhà giáo hoặc vị trí việc làm khác phù hợp với năng lực chuyên môn, nghiệp vụ, chuyên ngành đào tạo của hiệu trưởng, giám đốc, phó hiệu trưởng, phó giám đốc sau sắp xếp;

b) Số lượng hiệu trưởng, giám đốc, phó hiệu trưởng, phó giám đốc còn lại sau khi sắp xếp đủ theo quy định tại điểm a khoản này nếu có nguyện vọng nghỉ việc thì thực hiện giải quyết chính sách tinh giản biên chế theo quy định tại Nghị định số 154/2025/NĐ-CP ngày 15 tháng 6 năm 2025 của Chính phủ quy định về tinh giản biên chế.

Theo quy định trên, sau khi sắp xếp các trường mầm non, phổ thông thì trường chính sẽ có 1 hiệu trưởng và 1 phó hiệu trưởng, mỗi phân hiệu sẽ có 1 phó hiệu trưởng, khi đó sẽ có các hiệu trưởng, phó hiệu trưởng dôi dư.

Chẳng hạn, tại một xã hiện có 3 trường trung học cơ sở. Trước khi sáp nhập, 3 trường này có tổng cộng 3 hiệu trưởng và 6 phó hiệu trưởng, tức 9 cán bộ quản lý. Sau khi sáp nhập thành một trường trung học cơ sở mới, trường chính được bố trí 1 hiệu trưởng và 1 phó hiệu trưởng; 2 phân hiệu, mỗi phân hiệu được bố trí 1 phó hiệu trưởng. Như vậy, sau sắp xếp, toàn trường có 1 hiệu trưởng và 3 phó hiệu trưởng, tổng cộng 4 cán bộ quản lý.

So với trước khi sáp nhập, số lượng cán bộ quản lý giảm từ 9 xuống còn 4 người, dôi dư 5 hiệu trưởng, phó hiệu trưởng cần được cấp có thẩm quyền xem xét, sắp xếp, bố trí vào các vị trí việc làm phù hợp theo quy định.

Sau khi bổ nhiệm 1 hiệu trưởng, 3 phó hiệu trưởng, 5 người còn lại được sắp xếp bố trí theo điểm a khoản 3 Điều 4 như sau: Bố trí vào vị trí việc làm nhà giáo hoặc vị trí việc làm khác phù hợp với năng lực chuyên môn, nghiệp vụ, chuyên ngành đào tạo của hiệu trưởng, giám đốc, phó hiệu trưởng, phó giám đốc sau sắp xếp;

Như vậy, sau khi các hiệu trưởng, phó hiệu trưởng cũ không được bổ nhiệm giữ chức vụ quản lý sẽ quay trở lại làm nhà giáo (có thể bổ nhiệm tổ trưởng, tổ phó chuyên môn hay quay lại đứng lớp) hoặc các vị trí khác phù hợp như giáo vụ, thiết bị, thí nghiệm, quản trị công sở,…phù hợp với năng lực chuyên môn, nghiệp vụ, chuyên ngành đào tạo của hiệu trưởng, phó hiệu trưởng sau sắp xếp.

Tại điểm b khoản 3 Điều 4 nêu rõ: Số lượng hiệu trưởng, giám đốc, phó hiệu trưởng, phó giám đốc còn lại sau khi sắp xếp đủ theo quy định tại điểm a khoản này nếu có nguyện vọng nghỉ việc thì thực hiện giải quyết chính sách tinh giản biên chế theo quy định tại Nghị định số 154/2025/NĐ-CP ngày 15 tháng 6 năm 2025 của Chính phủ quy định về tinh giản biên chế.

Quy định này có thể hiểu rằng, sau khi thực hiện sắp xếp và bố trí đủ số lượng hiệu trưởng, giám đốc, phó hiệu trưởng, phó giám đốc theo cơ cấu mới tại điểm a khoản 3 Điều 4, nếu vẫn còn cán bộ quản lý dôi dư và những người này có nguyện vọng nghỉ việc thì mới được xem xét, giải quyết chính sách tinh giản biên chế theo Nghị định 154/2025/NĐ-CP.

Trong bối cảnh nhiều địa phương đang thiếu giáo viên, việc sắp xếp đội ngũ sau khi tổ chức lại các cơ sở giáo dục cần đặt mục tiêu tận dụng tối đa nguồn nhân lực hiện có, nhất là đội ngũ hiệu trưởng, phó hiệu trưởng không được bổ nhiệm lại. Theo đó, thay vì ưu tiên cho những cán bộ quản lý này nghỉ việc, nghỉ hưu trước tuổi hoặc hưởng chính sách theo Nghị định 154/2025/NĐ-CP, Nghị quyết 37/2026/NQ-CP ưu tiên phương án bố trí trở lại vị trí việc làm nhà giáo hoặc các vị trí khác nếu đáp ứng tiêu chuẩn, trình độ chuyên môn.

Đây vừa là giải pháp hạn chế lãng phí nguồn nhân lực đã được đào tạo, có kinh nghiệm quản lý và giảng dạy, vừa góp phần giải quyết tình trạng thiếu giáo viên đang diễn ra tại nhiều trường học. Đặc biệt, trong điều kiện tuyển dụng giáo viên mới còn mất thời gian, việc đưa cán bộ quản lý dôi dư trở lại đứng lớp có thể giúp các trường nhanh chóng bổ sung nhân lực, ổn định hoạt động dạy học và bảo đảm quyền lợi học tập của học sinh.

Tuy vậy, dù không được bổ nhiệm lại, hiệu trưởng, phó hiệu trưởng trước đây vẫn được bảo lưu phụ cấp chức vụ hết nhiệm kỳ theo quy định tại khoản 4 Điều 4 như sau: Trường hợp hiệu trưởng, giám đốc, phó hiệu trưởng, phó giám đốc thôi giữ chức vụ hoặc được bổ nhiệm chức vụ mới có mức phụ cấp chức vụ thấp hơn do thực hiện sắp xếp cơ sở giáo dục thì được bảo lưu phụ cấp chức vụ lãnh đạo theo quy định tại Điều 11 Nghị định số 178/2024/NĐ-CP ngày 31 tháng 12 năm 2024 của Chính phủ về chính sách, chế độ đối với cán bộ, công chức, viên chức, người lao động và lực lượng vũ trang trong thực hiện sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị (được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 67/2025/NĐ-CP ngày 15 tháng 3 năm 2025).

Giải quyết nghỉ hưởng chế độ theo Nghị định 154, hiệu trưởng, phó hiệu trưởng có những quyền lợi gì?

Trong đợt sắp xếp, tổ chức lại mạng lưới trường, lớp lần này, hiệu trưởng, phó hiệu trưởng và nhân viên trường học nếu thuộc đối tượng, đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo quy định và được cấp có thẩm quyền phê duyệt thì có thể được giải quyết nghỉ việc và hưởng chính sách tinh giản biên chế theo Nghị định 154/2025/NĐ-CP. Khi được giải quyết nghỉ theo chính sách này, người nghỉ việc có thể được hưởng các chế độ, chính sách theo quy định, tùy thuộc vào từng trường hợp cụ thể như sau:

Thứ nhất, chính sách nghỉ hưu trước tuổi

Tại Điều 6. Chính sách nghỉ hưu trước tuổi

1. Đối tượng có tuổi đời còn từ đủ 02 năm đến đủ 05 năm đến tuổi nghỉ hưu quy định tại Phụ lục II ban hành kèm theo Nghị định số 135/2020/NĐ-CP và có đủ thời gian công tác có đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc để được hưởng lương hưu theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội, trong đó có đủ 15 năm trở lên làm nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm thuộc danh mục do cơ quan của Chính phủ thực hiện chức năng quản lý nhà nước về lao động ban hành hoặc có đủ 15 năm trở lên làm việc ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn do cơ quan của Chính phủ thực hiện chức năng quản lý nhà nước về lao động ban hành bao gồm cả thời gian làm việc ở nơi có phụ cấp khu vực hệ số 0,7 trở lên trước ngày 01 tháng 01 năm 2021, ngoài hưởng chế độ hưu trí theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội, thì còn được hưởng các chế độ sau:

a) Không bị trừ tỷ lệ lương hưu do việc nghỉ hưu trước tuổi;

b) Được trợ cấp 05 tháng tiền lương hiện hưởng cho mỗi năm nghỉ hưu trước tuổi so với tuổi nghỉ hưu quy định tại Phụ lục II ban hành kèm theo Nghị định số 135/2020/NĐ-CP;

c) Được trợ cấp theo thời gian công tác có đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc như sau:

Đối với những người có từ đủ 20 năm công tác có đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc trở lên thì 20 năm đầu công tác có đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc được trợ cấp 05 tháng tiền lương hiện hưởng; đối với số năm còn lại (từ năm thứ 21 trở đi), mỗi năm được trợ cấp bằng 0,5 tháng tiền lương hiện hưởng.

Đối với những người có từ đủ 15 năm đến dưới 20 năm công tác có đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc thì được trợ cấp 05 tháng tiền lương hiện hưởng.

2. Đối tượng có tuổi đời còn từ đủ 02 năm đến đủ 05 năm đến tuổi nghỉ hưu quy định tại Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định số 135/2020/NĐ-CP và có đủ thời gian công tác có đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc để được hưởng lương hưu theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội, ngoài hưởng chế độ hưu trí theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội thì còn được hưởng các chế độ sau:

a) Không bị trừ tỷ lệ lương hưu do việc nghỉ hưu trước tuổi;

b) Được trợ cấp 05 tháng tiền lương hiện hưởng cho mỗi năm nghỉ hưu trước tuổi so với tuổi nghỉ hưu quy định tại Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định số 135/2020/NĐ-CP;

c) Được trợ cấp theo thời gian công tác có đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc như sau:

Đối với những người có từ đủ 20 năm công tác có đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc trở lên thì 20 năm đầu công tác có đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc được trợ cấp 05 tháng tiền lương hiện hưởng; đối với số năm còn lại (từ năm thứ 21 trở đi), mỗi năm được trợ cấp bằng 0,5 tháng tiền lương hiện hưởng.

Đối với những người có từ đủ 15 năm đến dưới 20 năm công tác có đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc được trợ cấp 05 tháng tiền lương hiện hưởng.

3. Đối tượng có tuổi đời còn dưới 02 năm đến tuổi nghỉ hưu quy định tại Phụ lục II ban hành kèm theo Nghị định số 135/2020/NĐ-CP và có đủ thời gian công tác có đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc để được hưởng lương hưu theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội, trong đó có đủ 15 năm làm nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm thuộc danh mục do cơ quan của Chính phủ thực hiện chức năng quản lý nhà nước về lao động ban hành hoặc có đủ 15 năm làm việc ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn do cơ quan của Chính phủ thực hiện chức năng quản lý nhà nước về lao động ban hành bao gồm cả thời gian làm việc ở nơi có phụ cấp khu vực hệ số 0,7 trở lên trước ngày 01 tháng 01 năm 2021 thì được hưởng chế độ hưu trí theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội và không bị trừ tỷ lệ lương hưu do việc nghỉ hưu trước tuổi.

4. Đối tượng có tuổi đời còn dưới 02 năm đến tuổi nghỉ hưu quy định tại Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định số 135/2020/NĐ-CP và có đủ thời gian công tác có đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc để được hưởng lương hưu theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội thì được hưởng chế độ hưu trí theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội và không bị trừ tỷ lệ lương hưu do việc nghỉ hưu trước tuổi.

Nhìn chung, theo Điều 6 Nghị định 154, cán bộ, công chức, viên chức thuộc diện sắp xếp tổ chức bộ máy nếu đủ điều kiện nghỉ hưu trước tuổi sẽ được hưởng nhiều chính sách ưu đãi. Người nghỉ hưu trước tuổi từ đủ 2 năm đến 5 năm không bị trừ tỷ lệ lương hưu, đồng thời được trợ cấp 5 tháng tiền lương cho mỗi năm nghỉ hưu sớm và trợ cấp theo thời gian đã đóng bảo hiểm xã hội. Trường hợp chỉ còn dưới 2 năm đến tuổi nghỉ hưu thì vẫn được hưởng lương hưu theo quy định và không bị giảm tỷ lệ lương hưu do nghỉ trước tuổi. Đây là chính sách quan trọng nhằm bảo đảm quyền lợi cho đội ngũ cán bộ, viên chức dôi dư trong quá trình sắp xếp, tinh gọn bộ máy.

Thứ hai, chính sách thôi việc

Tại Điều 8. Chính sách thôi việc gồm chính sách thôi việc ngay và thôi việc sau khi đi học nghề. Cụ thể:

1. Chính sách thôi việc ngay

Đối tượng chưa đến tuổi nghỉ hưu theo quy định tại Phụ lục I, Phụ lục II ban hành kèm theo Nghị định số 135/2020/NĐ-CP và không đủ điều kiện để hưởng chính sách về hưu trước tuổi quy định tại Điều 6 Nghị định này, nếu thôi việc ngay thì được hưởng các chế độ sau:

a) Được trợ cấp 03 tháng tiền lương hiện hưởng để tìm việc làm;

b) Được trợ cấp 1,5 tháng tiền lương hiện hưởng cho mỗi năm công tác có đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc;

c) Được bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc hoặc hưởng bảo hiểm xã hội một lần theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội.

2. Chính sách thôi việc sau khi đi học nghề

Đối tượng có tuổi đời dưới 45 tuổi, có sức khỏe, tinh thần trách nhiệm và ý thức tổ chức kỷ luật nhưng đang đảm nhận các công việc không phù hợp về trình độ đào tạo, chuyên ngành đào tạo, có nguyện vọng thôi việc thì được cơ quan, tổ chức, đơn vị tạo điều kiện cho đi học nghề trước khi giải quyết thôi việc, tự tìm việc làm mới, được hưởng các chế độ sau:

a) Được hưởng nguyên tiền lương hiện hưởng và được cơ quan, đơn vị đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp (nếu thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm thất nghiệp) trong thời gian đi học nghề, nhưng thời gian hưởng tối đa là 06 tháng;

b) Được trợ cấp một khoản kinh phí học nghề bằng chi phí cho khóa học nghề tối đa là 06 tháng mức lương hiện hưởng để đóng cho cơ sở dạy nghề;

c) Sau khi kết thúc học nghề được trợ cấp 03 tháng tiền lương hiện hưởng tại thời điểm đi học để tìm việc làm;

d) Được trợ cấp 0,5 tháng tiền lương hiện hưởng cho mỗi năm công tác có đóng bảo hiểm xã hội;

đ) Trong thời gian đi học nghề được tính thời gian công tác liên tục nhưng không được tính thâm niên công tác để nâng bậc lương thường xuyên hàng năm.

e) Được bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc hoặc hưởng bảo hiểm xã hội một lần theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội.

(*) Văn phong, nội dung bài viết thể hiện góc nhìn, quan điểm của tác giả.

Bùi Nam