Với hơn 1.165 ha diện tích có rừng cùng hệ thống hồ, đồi núi và cảnh quan tự nhiên, xã Kim Anh (Hà Nội) có nhiều lợi thế phát triển kinh tế rừng, du lịch sinh thái. Địa phương định hướng khai thác đa giá trị của rừng gắn với bảo vệ tài nguyên, nâng cao sinh kế người dân.
Xã Kim Anh được thành lập trên cơ sở sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên và dân số của các xã Minh Trí, Minh Phú và Tân Dân trước đây. Nằm ở cửa ngõ phía Bắc Thủ đô, gần Cảng hàng không quốc tế Nội Bài, địa phương có nhiều điều kiện phát triển kinh tế, dịch vụ và du lịch.
Theo Quyết định số 1050/QĐ-UBND ngày 11/3/2026 của Uỷ ban Nhân dân thành phố Hà Nội về công bố hiện trạng rừng năm 2026, xã Kim Anh có 1.165,98 ha diện tích có rừng. Rừng trên địa bàn chủ yếu là rừng trồng với các loài cây chính như thông, keo, bạch đàn.
Bên cạnh diện tích rừng, Kim Anh còn có nhiều hồ và cảnh quan tự nhiên tại khu vực Minh Phú, Minh Trí trước đây như hồ Đồng Đò, hồ Anh Bé, hồ Đình Phú và các vùng rừng phòng hộ. Đây là điều kiện thuận lợi để phát triển du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, trải nghiệm thiên nhiên.
Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, bà Trần Thị Thu Hà - Giám đốc Trung tâm Dịch vụ tổng hợp xã Kim Anh, cho biết địa phương xác định đây là lợi thế quan trọng để phát triển kinh tế, song việc khai thác phải gắn chặt với bảo vệ tài nguyên.
“Kim Anh có lợi thế về rừng, hồ và cảnh quan tự nhiên. Đây là điều kiện thuận lợi để phát triển du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, trải nghiệm. Tuy nhiên, phát triển kinh tế phải đi đôi với bảo vệ rừng, không vì phát triển du lịch mà tác động tiêu cực đến tài nguyên rừng”, bà Hà nói.
Phát triển du lịch gắn với bảo vệ rừng
Nghị quyết số 38/2026/NQ-HĐND của Hội đồng Nhân dân thành phố Hà Nội định hướng phát triển giá trị đa dụng của hệ sinh thái rừng, trong đó có du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, giải trí trong rừng, nghiên cứu khoa học và giáo dục môi trường.
Theo bà Hà, đây là hướng phù hợp với điều kiện của Kim Anh nhưng phải được thực hiện có quy hoạch, tuân thủ phương án quản lý rừng bền vững và các quy định pháp luật.
“Chúng tôi xác định không phát triển du lịch bằng cách chuyển đổi hoặc xâm hại rừng. Giá trị của rừng phải được khai thác theo hướng đa dụng nhưng vẫn bảo đảm chức năng sinh thái, phòng hộ và cảnh quan. Những hoạt động du lịch liên quan đến rừng phải có phương án quản lý cụ thể và được cấp có thẩm quyền phê duyệt”, bà Hà nhấn mạnh.
Theo quy định, các hoạt động du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, giải trí trong rừng phải phù hợp với phương án quản lý rừng bền vững, đề án, dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt và các quy định pháp luật liên quan.
Địa phương cũng phải kiểm soát chặt các vấn đề về xây dựng, sử dụng đất, môi trường và phòng cháy, chữa cháy rừng. Nếu phát triển thiếu kiểm soát, hoạt động du lịch có thể tạo thêm áp lực lên hệ sinh thái. Ngược lại, nếu được tổ chức bài bản, du lịch sinh thái có thể tạo thêm việc làm, tăng thu nhập cho người dân và nâng cao giá trị của tài nguyên rừng.
Thành phố bảo đảm kinh phí phục vụ phòng cháy, chữa cháy rừng, từ mua sắm, sửa chữa phương tiện, thiết bị đến tổ chức trực trong mùa khô, tuyên truyền, đào tạo, tập huấn và diễn tập. Đáng chú ý, chính sách khoán bảo vệ rừng tạo điều kiện để hộ gia đình, cá nhân cư trú hợp pháp tại địa phương và cộng đồng dân cư tham gia trực tiếp vào công tác bảo vệ rừng.
“Người dân sống gần rừng là lực lượng rất quan trọng trong bảo vệ rừng. Họ nắm địa bàn, thường xuyên sinh sống tại khu vực nên có thể phát hiện sớm các nguy cơ như cháy rừng, phá rừng hoặc lấn chiếm đất lâm nghiệp. Vì vậy, tăng cường sự tham gia của cộng đồng là rất cần thiết”, bà Hà cho hay.
Bên cạnh bảo vệ diện tích rừng hiện có, Kim Anh xác định trồng mới và phục hồi rừng là giải pháp quan trọng nhằm nâng cao chất lượng môi trường, tăng khả năng phòng hộ, bảo vệ đất, nguồn nước và cảnh quan. Địa phương chú trọng tuyên truyền để người dân hiểu rằng trồng rừng không chỉ là nhiệm vụ của Nhà nước mà còn tạo ra lợi ích lâu dài cho cộng đồng.
Theo bà Trần Thị Thu Hà, hiệu quả của trồng rừng không nên chỉ được đánh giá bằng số lượng cây được trồng mà phải tính đến chất lượng cây, tỷ lệ sống và khả năng hình thành rừng ổn định.
“Trồng cây phải gắn với chăm sóc và bảo vệ. Chúng tôi hướng tới việc trồng đúng nơi, lựa chọn cây phù hợp với điều kiện sinh thái, sau đó phải có người chăm sóc, theo dõi và bảo vệ. Không nên chỉ quan tâm đến số lượng cây trồng trong một đợt phát động mà bỏ qua hiệu quả sau đó”, Giám đốc Trung tâm Dịch vụ tổng hợp xã Kim Anh chia sẻ.
Đối với rừng phòng hộ, địa phương định hướng lựa chọn các loài cây phù hợp, có khả năng phòng hộ, bảo vệ đất, giữ nước và tạo cảnh quan. Những khu vực đủ điều kiện có thể nghiên cứu phát triển cây bản địa, cây dược liệu và lâm sản ngoài gỗ theo quy định.
Quản lý rừng bằng dữ liệu, phát triển kinh tế đa giá trị
Trong thời gian tới, xã Kim Anh định hướng chuyển mạnh công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng sang phương thức chủ động phòng ngừa, cảnh báo sớm, quản lý bằng dữ liệu và khai thác đa giá trị.
Trước hết, địa phương tiếp tục rà soát, quản lý chặt diện tích rừng và đất lâm nghiệp; Chuẩn hóa dữ liệu về diện tích rừng, chủ rừng, khoảnh, lô, hiện trạng và các biến động. Cùng với đó, công tác khoán bảo vệ rừng tiếp tục được thực hiện. Trung tâm Dịch vụ tổng hợp xã Kim Anh đã ký hợp đồng khoán bảo vệ với các cá nhân, hộ nhận khoán bảo vệ rừng.
Theo bà Hà, việc này giúp gắn trách nhiệm của người dân với diện tích rừng được giao, đồng thời nâng cao khả năng phát hiện sớm các vụ việc bất thường.
“Quản lý rừng trong giai đoạn hiện nay cần dựa nhiều hơn vào dữ liệu. Khi có thông tin đầy đủ về vị trí, hiện trạng, biến động diện tích rừng và nguy cơ có thể xảy ra, công tác quản lý sẽ chủ động hơn, nhất là trong phòng cháy, chữa cháy và xử lý các vấn đề phát sinh”, bà Hà cho biết.
Địa phương cũng hướng tới xây dựng hệ thống dữ liệu phục vụ xác định vị trí rừng, theo dõi hiện trạng, biến động, quản lý khoảnh, lô, ghi nhận vụ việc, theo dõi tuần tra và nguy cơ cháy rừng.
Về phát triển kinh tế, xã Kim Anh không chỉ tập trung vào sản phẩm gỗ mà nghiên cứu khai thác các giá trị khác của hệ sinh thái rừng như du lịch sinh thái, giáo dục môi trường, nghiên cứu khoa học, dịch vụ môi trường rừng, lâm sản ngoài gỗ và các mô hình sinh kế phù hợp với cộng đồng. Tuy nhiên, các hoạt động này phải được đặt trong phương án quản lý rừng bền vững, đề án hoặc dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt, tránh phát triển tự phát.
Xã cũng định hướng xây dựng kế hoạch trồng cây phân tán hằng năm theo hướng cụ thể, xác định rõ địa điểm, loại cây, nguồn kinh phí, thời gian thực hiện và trách nhiệm chăm sóc, quản lý sau trồng. Sau khi trồng, địa phương sẽ thống kê, theo dõi và bảo vệ cây nhằm đánh giá hiệu quả thực tế, tránh tình trạng chỉ quan tâm đến số lượng cây được trồng mà không chú trọng tỷ lệ sống.
“Trồng cây, trồng rừng phải có kế hoạch và trách nhiệm rõ ràng. Từ lựa chọn địa điểm, loài cây, nguồn kinh phí đến chăm sóc sau trồng đều cần được theo dõi. Mục tiêu cuối cùng không phải là trồng được bao nhiêu cây mà là tạo được bao nhiêu diện tích cây xanh, rừng có chất lượng và phát huy giá trị lâu dài”, bà Hà nhấn mạnh.