Miễn học phí ngành nông - lâm - thủy sản là thiết thực, nhưng cần thêm cơ chế để thu hút người học

21/08/2026 06:22
Đình Nam

GDVN - Theo đại diện một số cơ sở giáo dục đại học đào tạo các ngành nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản, việc miễn học phí là giải pháp thiết thực, nhưng để thu hút người học cần thêm nhiều yếu tố như thay đổi nhận thức xã hội, tăng cơ hội việc làm.

Bộ Giáo dục và Đào tạo đang lấy ý kiến đối với Dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung Nghị định số 238/2025/NĐ-CP ngày 3/9/2025 của Chính phủ quy định về chính sách học phí, miễn, giảm, hỗ trợ học phí, hỗ trợ chi phí học tập và giá dịch vụ trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo.

Trong đó, dự thảo bổ sung đối tượng miễn học phí gồm người học các ngành, nghề nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản, trong bối cảnh các ngành này dù xã hội đang rất cần nhưng vẫn gặp khó khăn trong tuyển sinh do nhu cầu người học thấp.

Nội dung này đang nhận được sự quan tâm lớn từ các cơ sở giáo dục đại học đào tạo các ngành nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản.

Miễn học phí là giải pháp thiết thực nhưng để thu hút người học cần thêm nhiều yếu tố

Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Tiến sĩ Trần Việt Hà - Phó Trưởng khoa, Khoa Lâm học, Trường Đại học Lâm nghiệp cho biết, các ngành nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản hiện đang gặp không ít khó khăn trong công tác tuyển sinh, bởi sức hấp dẫn của ngành nghề chưa cao.

Theo thầy Hà, một trong những nguyên nhân là tên gọi và hình ảnh về ngành vẫn chưa thực sự tạo được sức hút với thí sinh. Với riêng ngành lâm nghiệp, nhiều em còn quan niệm sẽ phải thường xuyên làm việc ngoài hiện trường, đi rừng, công việc vất vả trong khi mức thu nhập chưa tương xứng. Vì vậy, sinh viên theo học ngành này phần lớn là những em có người thân trong gia đình đang làm trong lĩnh vực lâm nghiệp hoặc đến từ các khu vực vùng cao, vùng sâu, vùng xa.

Trong bối cảnh đó, chính sách miễn học phí đối với người học các ngành nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản được Tiến sĩ Trần Việt Hà đánh giá là một yếu tố hỗ trợ thiết thực, nhất là với học sinh có hoàn cảnh kinh tế khó khăn ở vùng sâu, vùng xa.

Việc giảm gánh nặng chi phí học tập có thể góp phần cải thiện khả năng tiếp cận giáo dục và tạo thêm động lực để thí sinh lựa chọn những ngành đang khó tuyển sinh. Tuy nhiên, thầy Hà cho rằng đây chưa phải yếu tố mang tính quyết định đối với sức hút của ngành. Điều quan trọng hơn nằm ở cơ hội việc làm, mức thu nhập, chế độ đãi ngộ và triển vọng phát triển nghề nghiệp sau khi ra trường.

“Thực tế, nhu cầu tuyển dụng nhân lực lâm nghiệp vẫn tồn tại, thậm chí một số doanh nghiệp còn gặp khó khăn trong việc tìm được sinh viên tốt nghiệp có năng lực để làm việc. Dù vậy, không phải tất cả sinh viên tốt nghiệp đều lựa chọn công việc đúng chuyên ngành. Một bộ phận tìm kiếm cơ hội việc làm ở lĩnh vực khác hoặc chuyển sang làm việc tại các cơ quan ở địa phương.

Nguyên nhân chủ yếu là sức hấp dẫn của công việc chưa cao, trong khi mức lương chưa thực sự cạnh tranh so với nhiều ngành nghề khác. Đặc biệt, người làm trong lĩnh vực lâm nghiệp phải đảm nhận trách nhiệm lớn, làm việc trên địa bàn rộng, trong điều kiện đặc thù và chịu nhiều áp lực liên quan đến công tác quản lý, bảo vệ rừng”, Phó Trưởng khoa, Khoa Lâm học, Trường Đại học Lâm nghiệp bày tỏ.

thay-ha-lam-nghiep-2.jpg
Tiến sĩ Trần Việt Hà - Phó Trưởng khoa, Khoa Lâm học, Trường Đại học Lâm nghiệp. Ảnh: NVCC

Từ thực tế này, Tiến sĩ Trần Việt Hà cho rằng để thu hút và giữ chân nhân lực nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản, cần xây dựng những chính sách ưu đãi nghề nghiệp phù hợp, trong đó có thể xem xét các hệ số hoặc chế độ ưu đãi đặc thù. Nếu chỉ tập trung hỗ trợ người học trong thời gian học đại học mà chưa cải thiện điều kiện làm việc, thu nhập và chế độ đãi ngộ sau khi tốt nghiệp thì vẫn chưa đủ tạo ra sức hút bền vững.

Khi người lao động nhận thấy công việc có thu nhập và chế độ tương xứng với công sức bỏ ra, họ sẽ có động lực gắn bó lâu dài hơn với ngành; đồng thời chính những người đang làm nghề sẽ trở thành lực lượng góp phần quảng bá, lan tỏa hình ảnh tích cực về ngành đến thế hệ học sinh sau này.

Đồng quan điểm, Tiến sĩ Lê Văn Cường - Trưởng khoa, Khoa Nông Lâm Ngư nghiệp, Trường Đại học Hồng Đức khẳng định, chính sách miễn học phí đối với các ngành nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản nếu được thông qua sẽ có ý nghĩa nhất định, nhưng khó tạo ra sự thay đổi mang tính đột phá về sức hút tuyển sinh nếu chỉ dựa vào yếu tố tài chính.

Thầy Cường lý giải nguyên nhân khiến các ngành này gặp khó trong tuyển sinh lâu nay chủ yếu xuất phát từ định kiến xã hội. Nông nghiệp thường bị mặc định là nghề của nông dân, gắn với lao động vất vả; thậm chí nhiều người cho rằng đây là lĩnh vực đơn giản, không đòi hỏi đào tạo bài bản. Những quan niệm này qua nhiều thế hệ đã tác động đến tâm lý của phụ huynh, học sinh và cả công tác hướng nghiệp, khiến người trẻ ít lựa chọn các ngành nông - lâm - ngư nghiệp.

Do đó, việc Nhà nước có chính sách hỗ trợ đối với các ngành này là cần thiết, thậm chí nếu không có sự can thiệp kịp thời sẽ tiềm ẩn nhiều hệ lụy. Bởi lẽ, nông nghiệp không chỉ là một ngành sản xuất thiết yếu mà còn đóng vai trò như “trụ đỡ” của nền kinh tế, đặc biệt trong những giai đoạn xảy ra khủng hoảng kinh tế, biến động địa chính trị hay dịch bệnh. Đây cũng là lĩnh vực góp phần bảo đảm việc làm, an sinh xã hội và an ninh lương thực.

481553899-673802281980407-880463421396791582-n.jpg
Tiến sĩ Lê Văn Cường - Trưởng khoa, Khoa Nông Lâm Ngư nghiệp, Trường Đại học Hồng Đức. Ảnh: website nhà trường

Dù vậy, ngành nông nghiệp đang đứng trước tình trạng thiếu hụt nghiêm trọng nguồn nhân lực, nhất là lao động qua đào tạo. Nếu không nhanh chóng bổ sung nhân lực chất lượng cao, việc ứng dụng công nghệ hiện đại, phát triển kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, chuyển đổi số và nông nghiệp thông minh sẽ gặp nhiều khó khăn.

“Giá trị của chính sách miễn học phí không chỉ nằm ở số tiền người học được hỗ trợ. Dù khoản hỗ trợ học phí có thể không phải yếu tố quyết định lựa chọn ngành học, nhưng việc Nhà nước đưa các ngành nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản vào diện được hưởng chính sách ưu đãi là một sự ghi nhận quan trọng về mặt xã hội.

Chính sách này cho thấy Đảng, Nhà nước nhìn nhận rõ vai trò, vị trí và sứ mệnh của nông nghiệp đối với đất nước. Do đó, nếu được triển khai đồng thời với các giải pháp truyền thông, đổi mới đào tạo, tăng cường liên kết doanh nghiệp và đầu tư cho nông nghiệp công nghệ cao, chính sách miễn học phí sẽ có ý nghĩa lớn hơn trong việc từng bước thay đổi nhận thức và thu hút nguồn nhân lực trẻ cho lĩnh vực này”, Tiến sĩ Lê Văn Cường cho hay.

Còn theo Tiến sĩ Nguyễn Duy Tân - Phó Trưởng khoa, Khoa Nông nghiệp và Tài nguyên, Trường Đại học An Giang (Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh), việc bổ sung chính sách miễn học phí đối với các ngành nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản là giải pháp cần thiết để tạo thêm động lực cho người học.

Những chính sách này sẽ giúp giảm gánh nặng tài chính và tạo tín hiệu tích cực, qua đó khuyến khích học sinh lựa chọn các ngành xã hội cần nhân lực. Tuy nhiên, để chính sách thực sự phát huy hiệu quả, cần đặt trong tổng thể các giải pháp hỗ trợ người học và nâng cao sức hấp dẫn của ngành nghề.

“Bài học từ một số lĩnh vực đã cho thấy sức hút của chính sách hỗ trợ tài chính đối với người học. Khi sinh viên được miễn học phí và có thêm học bổng, những ngành được Nhà nước xác định là cần ưu tiên có thể thu hút đông người học hơn, đồng thời tạo điều kiện lựa chọn được những sinh viên có năng lực.

Vì vậy, với một số ngành nông nghiệp, thủy sản được xác định là ngành chủ chốt, Nhà nước cần tính toán chính sách hỗ trợ phù hợp để nâng cao sức hấp dẫn trong tuyển sinh”, Tiến sĩ Nguyễn Duy Tân đánh giá.

Chương trình đào tạo cần thay đổi theo hướng hiện đại, tăng cường hợp tác “3 nhà”

Bên cạnh chính sách miễn học phí cho người học các ngành nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản, theo Tiến sĩ Nguyễn Duy Tân, các trường đại học cũng cần đổi mới chương trình đào tạo để đáp ứng yêu cầu của nền nông nghiệp hiện đại.

Trong đó, việc đẩy mạnh số hóa, tăng cường năng lực ngoại ngữ và tin học cần được chú trọng, bởi công nghệ thông tin ngày càng được ứng dụng sâu rộng trong các lĩnh vực nông nghiệp, thủy sản và các ngành liên quan. Trường Đại học An Giang (Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh) cũng đang rà soát, điều chỉnh chương trình đào tạo, đưa thêm nội dung về ứng dụng công nghệ số vào giảng dạy nhằm nâng cao chất lượng đào tạo và đáp ứng tốt hơn nhu cầu thực tế.

Đồng thời, các cơ sở đào tạo cần tăng cường đưa những mô hình, công nghệ mới và kiến thức thực tiễn vào chương trình, đồng thời đầu tư cơ sở vật chất tương ứng.

thay-tan-an-giang.jpg
Tiến sĩ Nguyễn Duy Tân - Phó Trưởng khoa, Khoa Nông nghiệp và Tài nguyên, Trường Đại học An Giang (Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh). Ảnh: NVCC

“Việc cải tiến chương trình đào tạo phải đi cùng với nâng cao năng lực ngoại ngữ, tin học và khả năng tiếp cận công nghệ mới của sinh viên. Đây là những yếu tố quan trọng giúp người học không chỉ có kiến thức chuyên môn mà còn thích ứng với yêu cầu ngày càng cao của thị trường lao động”, Tiến sĩ Nguyễn Duy Tân chia sẻ.

Cũng theo thầy Tân, việc kết nối giữa nhà trường và doanh nghiệp cần được xem là một mắt xích quan trọng để tạo đầu ra cho sinh viên. Tại Trường Đại học An Giang (Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh), nhà trường đang tăng cường hợp tác với doanh nghiệp thông qua việc ký kết các biên bản ghi nhớ (MOU) trong nhiều lĩnh vực như nông nghiệp, thủy sản, chăn nuôi.

Chương trình đào tạo cũng được điều chỉnh theo hướng tăng cường thời gian trải nghiệm thực tế tại doanh nghiệp, trong đó có mô hình học kỳ doanh nghiệp. Sinh viên được tạo điều kiện thực tập chuyên ngành, tiếp cận môi trường làm việc thực tế và có cơ hội được doanh nghiệp tuyển dụng sau khi tốt nghiệp.

Khi người học nhận thấy ngành học vừa được hỗ trợ về tài chính, chương trình đào tạo được cập nhật theo công nghệ mới, vừa có cơ hội thực tập và việc làm rõ ràng sau tốt nghiệp, sức hấp dẫn của các ngành nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản sẽ được cải thiện.

Trong khi đó, bên cạnh chính sách miễn học phí, Tiến sĩ Trần Việt Hà đề xuất cần có thêm cơ chế đặc thù đối với những ngành nghề khó tuyển sinh nhưng xã hội vẫn có nhu cầu nhân lực cao.

Cụ thể, Nhà nước có thể nghiên cứu cơ chế đặt hàng, giao nhiệm vụ hoặc cấp kinh phí đào tạo gắn với nhu cầu nhân lực thực tế. Việc xác định chỉ tiêu tuyển sinh cũng cần có mối liên hệ chặt chẽ hơn với nhu cầu việc làm, tránh tình trạng một số ngành có sức hút lớn nhưng đào tạo vượt xa nhu cầu xã hội, trong khi những ngành thiết yếu như lâm nghiệp lại thiếu người học.

“Về phía cơ sở đào tạo, Trường Đại học Lâm nghiệp đã triển khai nhiều giải pháp nhằm nâng cao sức hấp dẫn của chương trình, trong đó có việc liên tục cập nhật nội dung, tăng cường hoạt động thực hành, thực tập và trải nghiệm thực tế.

Những nội dung kiến thức gắn với thực tiễn, cùng các hoạt động tại doanh nghiệp, giúp sinh viên hứng thú hơn với việc học. Bên cạnh đó, nhà trường cũng chú trọng mở rộng cơ hội trao đổi học thuật với các cơ sở giáo dục nước ngoài, trong đó có các đối tác ở châu Âu, Nhật Bản và Trung Quốc, tạo thêm cơ hội học tập, phát triển chuyên môn cho sinh viên có năng lực”, Phó Trưởng khoa, Khoa Lâm học, Trường Đại học Lâm nghiệp thông tin.

Còn theo Tiến sĩ Lê Văn Cường, cần thay đổi căn bản nhận thức của xã hội về nghề nghiệp trong lĩnh vực nông nghiệp. Nông nghiệp cần được nhìn nhận dưới góc độ kinh tế nông nghiệp, thay vì chỉ được xem là hoạt động lao động phổ thông.

Người làm nông nghiệp, đặc biệt là nông dân, cần được nhìn nhận như những “công nhân nông nghiệp” với yêu cầu ngày càng cao về kiến thức, kỹ năng và khả năng vận hành công nghệ. Đây là nguồn nhân lực trực tiếp tạo ra sản phẩm thiết yếu, đồng thời là nền tảng để hình thành một nền sản xuất bền vững, an toàn và thích ứng với những yêu cầu mới của xã hội.

Để đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu mới, Trưởng khoa, Khoa Nông Lâm Ngư nghiệp, Trường Đại học Hồng Đức cho rằng các cơ sở giáo dục đại học cũng cần đổi mới mạnh mẽ chương trình và phương thức đào tạo.

q-5-20260502031244-e.jpg
Sinh viên khoa Nông Lâm Ngư nghiệp, Trường Đại học Hồng Đức trong hoạt động thực tế tại doanh nghiệp. Ảnh: website nhà trường

“Một trong những điểm hạn chế hiện nay là do nhiều năm gặp khó khăn trong tuyển sinh, các cơ sở đào tạo nông nghiệp chưa nhận được sự đầu tư tương xứng, đặc biệt về cơ sở thực hành, thực tập và các mô hình đào tạo gắn với nông nghiệp thông minh, nông nghiệp công nghệ cao. Vì vậy, cần hình thành cơ chế phối hợp chặt chẽ thông qua hợp tác “3 nhà”: Nhà nước, nhà trường và nhà doanh nghiệp.

Doanh nghiệp không chỉ tham gia tuyển dụng sau khi sinh viên tốt nghiệp mà cần tham gia ngay từ quá trình xây dựng chương trình, tổ chức đào tạo và hướng dẫn thực hành. Theo thầy, có thể tăng thời lượng sinh viên học tập, thực tập trực tiếp tại doanh nghiệp để tiếp cận công nghệ hiện đại, thiết bị thông minh và quy trình sản xuất thực tế.

Cùng với đó, Nhà nước cần có cơ chế hỗ trợ các cơ sở đào tạo trong việc số hóa tài liệu, xây dựng và cập nhật dữ liệu lớn, đồng thời tăng cường ứng dụng công nghệ sinh học, công nghệ số và trí tuệ nhân tạo trong đào tạo.

Những công nghệ như AI trong chẩn đoán sâu bệnh, hệ thống cảm biến để theo dõi điều kiện môi trường, phân tích khí hậu, thời tiết, dự báo sâu bệnh hay các mô hình quan trắc thông minh cần được đưa vào quá trình đào tạo để sinh viên có khả năng thích ứng với nền nông nghiệp hiện đại”, thầy Cường đề xuất.

Cũng theo Tiến sĩ Lê Văn Cường, bên cạnh chính sách miễn học phí, cần triển khai các chương trình truyền thông, trải nghiệm nông nghiệp nhằm thay đổi nhận thức của phụ huynh, học sinh và xã hội.

Các cơ sở giáo dục đại học có thể phối hợp với trường phổ thông, trang trại hoặc các trung tâm giáo dục để tổ chức những chương trình trải nghiệm, giúp học sinh trực tiếp nhìn thấy giá trị của sản xuất nông nghiệp và hiểu rằng đây không còn là công việc thuần túy dựa vào sức lao động, mà đã trở thành một lĩnh vực ứng dụng khoa học, công nghệ cao, có nhiều cơ hội phát triển và tạo thu nhập.

Đình Nam