Từ năm học 2026-2027, tối đa 25% viên chức được đánh giá hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ

07/09/2026 06:45
Bùi Nam

GDVN - Trường hợp đơn vị sự nghiệp công lập có thành tích xuất sắc, được công nhận đơn vị “Hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ” thì tỷ lệ viên chức hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ không vượt quá 25% tổng số viên chức được xếp loại “Hoàn thành tốt nhiệm vụ”.

Ngày 26 tháng 6 năm 2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 233/2026/NĐ-CP quy định về đánh giá, xếp loại chất lượng đối với đơn vị sự nghiệp công lập và viên chức có hiệu lực từ 01/7/2026. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng để thống nhất việc đánh giá viên chức theo Luật Viên chức mới.

Trong phạm vi bài viết xin được nêu và phân tích các trường hợp được đánh giá không hoàn thành nhiệm vụ và các trường hợp đặc biệt khi đánh giá phân loại viên chức.

anh-minh-hoa.png
Ảnh minh họa

Các trường hợp được đánh giá không hoàn thành nhiệm vụ

Tại khoản 4 Điều 12 quy định không hoàn thành nhiệm vụ thuộc một trong các trường hợp sau:

Có kết quả theo dõi, đánh giá của năm dưới 50 điểm trong tổng số 100 điểm;

Bị cấp có thẩm quyền kết luận có biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; vi phạm những điều đảng viên không được làm; vi phạm trách nhiệm nêu gương, ảnh hưởng xấu đến uy tín của bản thân và cơ quan, đơn vị nơi công tác;

Một điểm mới đáng ghi nhận là việc đánh giá viên chức không chỉ căn cứ vào mức độ hoàn thành nhiệm vụ chuyên môn, nghiệp vụ. Trường hợp viên chức, nhất là viên chức là đảng viên, vi phạm những điều đảng viên không được làm theo quy định của Đảng; vi phạm trách nhiệm nêu gương, thiếu gương mẫu, gây ảnh hưởng xấu đến uy tín của bản thân và cơ quan, đơn vị cũng có thể bị xếp loại “Không hoàn thành nhiệm vụ” khi đã có kết luận của cấp có thẩm quyền.

Quy định này cho thấy yêu cầu đánh giá ngày càng toàn diện hơn: không chỉ “làm được việc” mà còn phải “gương mẫu trong cách sống và trách nhiệm”. Đặc biệt, trách nhiệm nêu gương được đặt ra ở mức cao hơn, không chỉ xem xét hành vi của cá nhân mà trong những trường hợp thuộc phạm vi trách nhiệm theo quy định, những vi phạm liên quan đến gia đình cũng có thể tác động đến kết quả đánh giá. Đây là cách tiếp cận phù hợp nhằm đề cao trách nhiệm, uy tín và tính gương mẫu của đội ngũ viên chức.

Có hành vi vi phạm liên quan đến thực hiện nhiệm vụ bị kỷ luật bằng hình thức từ khiển trách trở lên trong năm đánh giá;

Quy định này đảm bảo đồng bộ với các quy định về kỷ luật viên chức, người nào bị kỷ luật thì bị đánh giá không hoàn thành nhiệm vụ trong năm kỷ luật.

Tổ chức, đơn vị thuộc thẩm quyền phụ trách, quản lý trực tiếp liên quan đến tham ô, tham nhũng, lãng phí và bị xử lý theo quy định của pháp luật (đối với viên chức quản lý).

Một điểm mới đáng chú ý là trách nhiệm của viên chức quản lý không chỉ dừng ở những sai phạm trực tiếp do cá nhân thực hiện. Nếu tổ chức, đơn vị thuộc phạm vi phụ trách, quản lý trực tiếp có liên quan đến tham ô, tham nhũng, lãng phí và bị xử lý theo quy định của pháp luật, người đứng đầu, người quản lý cũng có thể bị xếp loại “Không hoàn thành nhiệm vụ”.

Quy định này thể hiện rõ hơn nguyên tắc “quản lý phải đi đôi với trách nhiệm”: được giao quyền hạn, phụ trách một đơn vị thì phải chịu trách nhiệm đối với những vấn đề xảy ra trong phạm vi mình quản lý. Qua đó, nâng cao trách nhiệm của hiệu trưởng, phó hiệu trưởng và các viên chức quản lý trong phòng ngừa tham nhũng, tiêu cực, lãng phí,…

Trường hợp cá nhân viên chức quản lý đã chủ động phát hiện, báo cáo và chỉ đạo xử lý kịp thời, khắc phục xong hậu quả thì cấp có thẩm quyền căn cứ vào hoàn cảnh, tính chất, hành vi, mức độ vi phạm, hậu quả, nguyên nhân và các yếu tố liên quan khác để xem xét, đánh giá, xếp loại bảo đảm khách quan, thận trọng, toàn diện và chịu trách nhiệm về quyết định của mình theo phân cấp.

Quy định này là điểm rất đáng ghi nhận, bởi không đánh đồng trách nhiệm của người quản lý với mọi sai phạm xảy ra trong đơn vị. Trường hợp viên chức quản lý chủ động phát hiện, kịp thời báo cáo, chỉ đạo xử lý và khắc phục hậu quả, cấp có thẩm quyền sẽ xem xét đầy đủ hoàn cảnh, tính chất, mức độ, nguyên nhân và các yếu tố liên quan trước khi quyết định xếp loại.

Quy định mới vừa đề cao trách nhiệm của người đứng đầu, vừa bảo đảm sự công bằng, khách quan, tránh tình trạng cứ có sai phạm trong đơn vị là người quản lý mặc nhiên bị đánh giá không hoàn thành nhiệm vụ. Đồng thời, quy định cũng khuyến khích cán bộ quản lý dám phát hiện, dám báo cáo, dám xử lý và chịu trách nhiệm, thay vì né tránh hoặc che giấu sai phạm.

Tối đa 25% viên chức được đánh giá hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ

Tại khoản 6 Điều 12 quy định tỷ lệ xếp loại hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ đối với viên chức:

a) Tỷ lệ viên chức xếp loại “Hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ” không vượt quá 20% tổng số viên chức được xếp loại “Hoàn thành tốt nhiệm vụ” trong phạm vi cùng một cơ quan, đơn vị và trong từng nhóm viên chức có nhiệm vụ tương đồng.

b) Trường hợp đơn vị sự nghiệp công lập có thành tích xuất sắc, nổi trội, tạo sự chuyển biến tích cực, hoàn thành vượt kế hoạch các công việc được giao, mang lại giá trị, hiệu quả thiết thực được cấp có thẩm quyền quyết định công nhận đơn vị “Hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ” thì đơn vị sự nghiệp công lập quyết định tỷ lệ viên chức hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ cao hơn quy định tại điểm a khoản này nhưng không vượt quá 25% tổng số viên chức được xếp loại “Hoàn thành tốt nhiệm vụ”.

Một điểm mới đáng ghi nhận là quy định đã cụ thể hóa tỷ lệ viên chức được xếp loại “Hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ”. Theo đó, tỷ lệ này thông thường không vượt quá 20% số viên chức được xếp loại “Hoàn thành tốt nhiệm vụ” trong cùng cơ quan, đơn vị và nhóm nhiệm vụ tương đồng. Đây là cơ chế giúp việc xếp loại chặt chẽ hơn, tránh tình trạng đánh giá xuất sắc quá dàn trải.

Đáng chú ý, quy định mới đã bổ sung trường hợp đặc biệt đối với những đơn vị có thành tích thực sự nổi trội. Nếu đơn vị được cấp có thẩm quyền công nhận “Hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ”, tạo chuyển biến tích cực, hoàn thành vượt kế hoạch và mang lại hiệu quả thiết thực, thì có thể quyết định tỷ lệ “Hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ” cao hơn 20%, nhưng tối đa không quá 25%. Đây là điểm rất hợp lý, vừa giữ nguyên nguyên tắc khống chế tỷ lệ, vừa tạo dư địa để ghi nhận xứng đáng những tập thể tiêu biểu, xuất sắc và những cá nhân thực sự nổi bật.

Mức xếp loại chất lượng của người đứng đầu không cao hơn mức xếp loại chất lượng của đơn vị

Tại khoản 7 Điều 12 quy định mức xếp loại chất lượng của người đứng đầu không cao hơn mức xếp loại chất lượng của đơn vị.

Đối với đơn vị giáo dục, nếu cơ sở giáo dục được đánh giá hoàn thành tốt nhiệm vụ thì hiệu trưởng không được đánh giá hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.

Quy định mới này, các hiệu trưởng sẽ rất khó được đánh giá hoàn thành xuất sắc, nhất là các đơn vị sự nghiệp thuộc cấp xã.

Tại khoản 7 Điều 7 quy định tỷ lệ xếp loại hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ đối với đơn vị sự nghiệp công lập

Tỷ lệ đơn vị sự nghiệp công lập được xếp loại “Hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ” không vượt quá 20% trong tổng số đơn vị được xếp loại “Hoàn thành tốt nhiệm vụ” trong phạm vi quản lý của cấp có thẩm quyền công nhận đánh giá, xếp loại chất lượng.

Trường hợp đơn vị sự nghiệp công lập có thành tích xuất sắc, nổi trội, tạo sự chuyển biến tích cực, hoàn thành vượt kế hoạch các công việc được giao, mang lại giá trị, hiệu quả thiết thực thì cấp có thẩm quyền quyết định tỷ lệ đơn vị hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ cao hơn quy định tại điểm a khoản này nhưng không vượt quá 25% tổng số đơn vị được xếp loại “Hoàn thành tốt nhiệm vụ”.

Trường hợp đơn vị có dưới 05 đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc thì có tối đa 01 đơn vị được xếp loại “Hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ”.

Hiện nay, sau sáp nhập các cơ sở giáo dục, ngoại trừ các phường tại các thành phố lớn, các trường hợp các trường học thuộc cấp xã rất ít nơi có 5 đơn vị sự nghiệp công lập gồm trường mầm non, tiểu học, trung học cơ sở. Nếu đơn vị có 5 đơn vị sự nghiệp công lập thì chỉ có 1 đơn vị được đánh giá hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Như vậy, chỉ tối đa 1 hiệu trưởng được đánh giá hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.

Quy định về các trường hợp đặc biệt trong theo dõi, đánh giá, xếp loại chất lượng viên chức

Tại Điều 14. Trường hợp đặc biệt trong theo dõi, đánh giá, xếp loại chất lượng viên chức

1. Viên chức có thời gian làm việc trong năm chưa đủ 06 tháng không xếp loại chất lượng, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.

2. Viên chức nghỉ việc riêng không hưởng lương nhưng bảo đảm thời gian làm việc từ 06 tháng trở lên; nghỉ ốm hoặc nghỉ thai sản theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội thì kết quả xếp loại chất lượng trong năm là kết quả xếp loại chất lượng của thời gian làm việc thực tế của năm đó.

Quy định mới giáo viên nghỉ ốm đau (có giấy xác nhận của cấp có thẩm quyền) hoặc nghỉ thai sản thì vẫn được đánh giá theo thời gian làm việc thực tế.

3. Viên chức bị xử lý kỷ luật đảng hoặc kỷ luật hành chính thì đánh giá, xếp loại chất lượng như sau:

a) Viên chức bị xử lý kỷ luật đảng hoặc kỷ luật hành chính trong năm đánh giá do suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, vi phạm liên quan đến thực hiện nhiệm vụ thì xếp loại chất lượng ở mức không hoàn thành nhiệm vụ.

Trường hợp bị xử lý kỷ luật đảng và kỷ luật hành chính về cùng một hành vi vi phạm nhưng quyết định kỷ luật đảng và quyết định kỷ luật hành chính không có hiệu lực trong cùng năm đánh giá thì chỉ tính làm căn cứ để xếp loại chất lượng ở một năm đánh giá.

b) Trường hợp có hành vi vi phạm và chưa có quyết định xử lý kỷ luật của cấp có thẩm quyền nhưng đã được dùng làm căn cứ để xếp loại chất lượng ở mức không hoàn thành nhiệm vụ trong năm đánh giá thì quyết định xử lý kỷ luật ban hành sau năm đánh giá đối với hành vi vi phạm đó (nếu có) không tính làm căn cứ để xếp loại chất lượng ở năm có quyết định xử lý kỷ luật.

c) Trường hợp viên chức có khuyết điểm, vi phạm xảy ra ở tổ chức cũ nhưng bị xử lý kỷ luật và thi hành kỷ luật ở tổ chức mới chuyển đến thì tính vào kết quả đánh giá, xếp loại của tổ chức cũ.

(*) Văn phong, nội dung bài viết thể hiện góc nhìn, quan điểm của tác giả.

Bùi Nam