Khi công khai tỷ lệ việc làm của sinh viên, cơ sở GDNN cần minh bạch số liệu, tránh làm "đẹp số"

12/09/2026 06:24
ĐÀO HIỀN

GDVN - Thực tế hiện nay, nhiều cơ sở đào tạo sử dụng con số tỷ lệ có việc làm sau tốt nghiệp cao như một thông tin quảng bá, song không cung cấp đầy đủ căn cứ để người học kiểm chứng.

Trong Công văn số 5747/BGDĐT-GDNNGDTX hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ năm học 2026-2027 đối với giáo dục nghề nghiệp, giáo dục thường xuyên, Bộ Giáo dục và Đào tạo yêu cầu các cơ sở giáo dục nghề nghiệp trước khi tuyển sinh phải công khai điều kiện bảo đảm chất lượng, học phí, chuẩn đầu ra và kết quả việc làm sau tốt nghiệp.

Theo đại diện một số cơ sở giáo dục nghề nghiệp, đây là những thông tin có ý nghĩa quan trọng, giúp người học và phụ huynh có cơ sở tham khảo, cân nhắc trước khi lựa chọn ngành nghề và cơ sở đào tạo. Việc công khai đầy đủ, minh bạch cũng góp phần nâng cao trách nhiệm giải trình của các cơ sở giáo dục nghề nghiệp, đồng thời tạo động lực để các trường cạnh tranh bằng chất lượng đào tạo và kết quả đầu ra.

Người học có quyền được biết trước khi lựa chọn, nhà trường có trách nhiệm công khai trước khi tuyển sinh

Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Tiến sĩ Lê Danh Quang - Phó Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Công nghệ cao Hà Nội khẳng định: Lựa chọn ngành, nghề và cơ sở đào tạo là quyết định quan trọng, có ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình học tập cũng như cơ hội việc làm của người học sau này.

Tuy nhiên, trong quá trình hướng nghiệp, thầy Quang nhận thấy nhiều học sinh, phụ huynh vẫn lựa chọn trường dựa chủ yếu vào những thông tin khá đơn giản như tên trường, ngành học, mức học phí hoặc các hoạt động quảng bá. Trong khi đó, để đánh giá chất lượng và hiệu quả đào tạo, người học cần quan tâm đến nhiều yếu tố thiết thực hơn như chương trình đào tạo, phương thức tổ chức học tập, cơ sở hạ tầng, trang thiết bị thực hành, môi trường học tập, cơ hội thực hành, chuẩn đầu ra và vị trí việc làm sau tốt nghiệp.

Thực tế, điều kiện giữa các cơ sở giáo dục nghề nghiệp hiện nay có sự khác biệt đáng kể. Có cơ sở được đầu tư bài bản với diện tích đất hàng chục ha, hệ thống tòa nhà, phòng học đạt chuẩn, trang thiết bị hiện đại, khu ký túc xá, khu liên hợp thể thao... với nguồn vốn đầu tư lên tới hàng nghìn tỷ đồng.

Trong khi đó, cũng có cơ sở chỉ thuê lại một phần tòa nhà của đơn vị khác để hoạt động, điều kiện cơ sở vật chất còn tạm bợ, thiếu tính ổn định lâu dài, chưa bảo đảm đầy đủ các điều kiện hỗ trợ học sinh, sinh viên, thậm chí trang thiết bị phục vụ đào tạo còn hạn chế.

“Vì vậy, công khai thông tin không chỉ là yêu cầu về mặt quản lý mà còn là quyền được biết của người học và trách nhiệm của cơ sở đào tạo. Khi có đầy đủ thông tin để tham khảo, so sánh, thí sinh và phụ huynh sẽ có cơ sở thực tế hơn để lựa chọn ngành, nghề và cơ sở đào tạo phù hợp”, thầy Quang nhấn mạnh.

Đối với kết quả việc làm sau tốt nghiệp, thầy Quang cho rằng đây cần được xem là một trong những thước đo quan trọng để đánh giá hiệu quả đào tạo. Một chương trình dù được đầu tư về cơ sở vật chất, có nội dung đào tạo hiện đại nhưng người học tốt nghiệp không tìm được việc làm phù hợp, hoặc kiến thức, kỹ năng không đáp ứng yêu cầu của doanh nghiệp thì cần phải nhìn nhận, đánh giá lại hiệu quả đào tạo.

Theo thầy, việc công khai các thông tin về điều kiện đào tạo, chuẩn đầu ra và kết quả việc làm cũng tạo ra một “cuộc cạnh tranh bằng chất lượng” giữa các cơ sở giáo dục nghề nghiệp. Khi người học và phụ huynh có thể so sánh về điều kiện đào tạo, học phí, cơ hội thực hành, chuẩn đầu ra và việc làm, các trường sẽ có thêm động lực để nâng cao chất lượng, đầu tư cơ sở vật chất, đổi mới chương trình, tăng cường thực hành và hợp tác với doanh nghiệp.

“Đây chính là sự chuyển đổi rất quan trọng từ tư duy tuyển sinh bằng quảng bá sang tuyển sinh bằng chất lượng và kết quả đầu ra”, thầy Quang nhấn mạnh.

z7045336875599-86b98a24c3f484a389ddd022e6d642b5.jpg
Tiến sĩ Lê Danh Quang - Phó Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Công nghệ cao Hà Nội. Ảnh: website nhà trường.

Đồng quan điểm, Tiến sĩ Phạm Quang Huy - Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Cộng đồng Đồng Tháp cũng cho rằng, việc các cơ sở giáo dục nghề nghiệp công khai thông tin trước tuyển sinh là yêu cầu cần thiết, qua đó thể hiện trách nhiệm giải trình của nhà trường đối với người học và xã hội.

Đặc biệt, theo thầy Huy, việc công khai thông tin không nên chỉ dừng lại ở việc đăng tải trên website mà cần được kết hợp với các hoạt động tư vấn, trải nghiệm thực tế. Tại Trường Cao đẳng Cộng đồng Đồng Tháp, vào mỗi mùa tuyển sinh, nhà trường sẵn sàng kết nối với các trường phổ thông, tạo cơ hội để học sinh tham quan, trải nghiệm trực tiếp tại cơ sở đào tạo. Qua đó, học sinh có thể tìm hiểu cụ thể hơn về cơ sở vật chất, trang thiết bị, môi trường học tập cũng như các ngành nghề đang được đào tạo trước khi đưa ra quyết định lựa chọn.

Tuy nhiên, từ thực tế triển khai, thầy Huy cho rằng một trong những vấn đề khó nhất khi thực hiện yêu cầu công khai là thống kê và cập nhật thông tin về tình hình việc làm của người học sau tốt nghiệp. Tại Trường Cao đẳng Cộng đồng Đồng Tháp, nhà trường thực hiện theo dõi tình trạng việc làm của người học sau tốt nghiệp, thống kê tại các mốc 6 tháng và 1 năm. Dù vậy, tình trạng việc làm của người học có thể thay đổi theo từng thời điểm, trong khi quá trình từ thống kê, tổng hợp đến công khai trên website cũng cần một khoảng thời gian nhất định. Do đó, số liệu tại thời điểm khảo sát có thể có sự chênh lệch so với thời điểm thông tin được công bố.

Từ thực tế này, thầy Huy cho rằng, việc công khai kết quả việc làm cần được thực hiện thường xuyên, với phương pháp thống kê rõ ràng và cập nhật định kỳ, qua đó giúp thông tin cung cấp cho người học phản ánh sát hơn tình hình thực tế. Khi các thông tin về điều kiện đào tạo, chi phí học tập, chuẩn đầu ra và kết quả việc làm được công khai đầy đủ, minh bạch, thí sinh và phụ huynh sẽ có thêm cơ sở để đánh giá, so sánh giữa các cơ sở đào tạo và đưa ra lựa chọn phù hợp.

798341566-1384626247199549-5473185434957988465-n.jpg
Tiến sĩ Phạm Quang Huy - Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Cộng đồng Đồng Tháp. Ảnh: website nhà trường.

Công khai tỷ lệ việc làm sau tốt nghiệp phải đi cùng khả năng kiểm chứng

Thực tế hiện nay, tỷ lệ người học có việc làm sau tốt nghiệp đang trở thành một trong những thông tin được nhiều cơ sở giáo dục nghề nghiệp sử dụng để quảng bá, thu hút người học. Không ít cơ sở đưa ra những con số rất cao, thậm chí cam kết 90-100% người học có việc làm sau tốt nghiệp.

Theo Tiến sĩ Phạm Quang Huy, việc các cơ sở giáo dục nghề nghiệp công bố tỷ lệ người học có việc làm sau tốt nghiệp là cần thiết, song thông tin này phải đi kèm với số liệu cụ thể và được công khai một cách minh bạch. Thầy cho biết, việc các cơ sở sử dụng thông tin như “100% sinh viên tốt nghiệp có việc làm” để quảng bá không phải là hiếm.

Trong thực tế, có những cơ sở đào tạo có chất lượng tốt, người học sau khi tốt nghiệp đáp ứng được yêu cầu của thị trường lao động và tìm được việc làm phù hợp. Tuy nhiên, cũng có trường hợp sử dụng những con số tỷ lệ việc làm cao như một thông tin quảng bá nhưng chưa cung cấp đầy đủ căn cứ để người học kiểm chứng.

Theo thầy Huy, nếu chỉ đưa ra một con số chung như 90% hay 100% mà không phân tích cụ thể, thông tin này chưa thực sự phản ánh đầy đủ hiệu quả đào tạo. Bởi khi thực hiện lần vết người học sau tốt nghiệp, kết quả việc làm có sự khác nhau giữa từng ngành, từng lĩnh vực. Trong khi đó, khi lựa chọn trường, thí sinh thường quan tâm trực tiếp đến ngành nghề mà mình dự định theo học và cơ hội việc làm của chính ngành đó.

Vì vậy, thầy Huy cho rằng các cơ sở giáo dục nghề nghiệp nên công khai tỷ lệ việc làm theo từng ngành, từng lĩnh vực đào tạo, thay vì chỉ đưa ra một tỷ lệ chung cho toàn trường. Cách công khai này sẽ giúp thí sinh có thông tin sát thực hơn với ngành nghề mình quan tâm, đồng thời tạo điều kiện để phụ huynh và người học có thể so sánh hiệu quả đào tạo giữa các cơ sở.

Bên cạnh đó, số liệu về việc làm cũng cần được cập nhật định kỳ. Theo thầy, thị trường lao động luôn biến động, tình trạng việc làm của người học có thể thay đổi theo thời gian, do đó việc cập nhật thường xuyên sẽ giúp thông tin công khai phản ánh sát hơn thực tế và hạn chế tình trạng sử dụng những số liệu cũ để quảng bá tuyển sinh.

Trong khi đó, theo Tiến sĩ Lê Danh Quang, nếu một cơ sở đào tạo công bố tỷ lệ việc làm 90%, 95% hay 100%, điều quan trọng không chỉ nằm ở con số mà còn ở cách số liệu đó được xác định. Người học có làm đúng hoặc gần đúng ngành nghề được đào tạo hay không; mất bao lâu sau tốt nghiệp để có việc làm; công việc có ổn định, phù hợp với năng lực hay không; thu nhập và cơ hội phát triển nghề nghiệp như thế nào là những vấn đề cần được làm rõ.

“Nếu có việc làm là điểm bắt đầu, thì đúng nghề, việc làm bền vững, thu nhập phù hợp và khả năng phát triển mới là thước đo chất lượng đào tạo nghề”, thầy Quang nhấn mạnh.

Vì vậy, thầy cho rằng các cơ sở giáo dục nghề nghiệp không nên chỉ công bố một tỷ lệ việc làm chung cho toàn trường, mà cần từng bước xây dựng “hồ sơ kết quả việc làm” theo từng ngành, nghề đào tạo.

Bên cạnh tỷ lệ người học có việc làm tại các mốc thời gian thống nhất như 3 tháng, 6 tháng và 12 tháng sau tốt nghiệp, cần làm rõ mức độ phù hợp giữa việc làm với ngành đào tạo, tính ổn định của công việc, thu nhập và khả năng phát triển nghề nghiệp. Đánh giá của doanh nghiệp về năng lực người tốt nghiệp cũng là một chỉ báo quan trọng để phản ánh chất lượng đào tạo từ góc độ thị trường lao động.

Tuy nhiên, để những số liệu này có giá trị và có thể so sánh giữa các cơ sở đào tạo, theo thầy Quang, trước hết cần có phương pháp thu thập và thống kê thống nhất. Cơ quan quản lý cần quy định rõ thế nào là “có việc làm”, thời điểm khảo sát, đối tượng khảo sát, cách tính tỷ lệ cũng như phương pháp xác minh dữ liệu. Các trường cũng cần công khai tỷ lệ phản hồi và cách thức xác minh để người học có thể đánh giá mức độ tin cậy của số liệu.

Việc thu thập thông tin cũng cần được thực hiện từ nhiều nguồn, không chỉ dựa vào khảo sát người học sau tốt nghiệp mà có thể kết hợp với thông tin từ doanh nghiệp tuyển dụng và từng bước kết nối với dữ liệu quản lý nhà nước về lao động, việc làm, bảo hiểm xã hội.

Khi đó, kết quả việc làm mới có thể trở thành một nguồn dữ liệu đáng tin cậy để đánh giá chất lượng đào tạo.

Việc công khai điều kiện đảm bảo chất lượng, học phí, tỷ lệ có việc làm sau tốt nghiệp sẽ tạo ra sự cạnh tranh lành mạnh giữa các cơ sở giáo dục nghề nghiệp. Ảnh: hht.edu.vn
Việc công khai điều kiện đảm bảo chất lượng, học phí, tỷ lệ có việc làm sau tốt nghiệp sẽ tạo ra sự cạnh tranh lành mạnh giữa các cơ sở giáo dục nghề nghiệp. Ảnh: hht.edu.vn

Ở góc độ quản lý nhà trường, thầy Quang cho rằng sức ép từ việc công khai kết quả việc làm sẽ buộc các cơ sở giáo dục nghề nghiệp quay trở lại với nhu cầu thực của doanh nghiệp và thị trường lao động. Muốn người học có việc làm phù hợp, chương trình đào tạo phải được xây dựng trên cơ sở yêu cầu của vị trí việc làm. Chuẩn đầu ra cần có sự tham gia góp ý của doanh nghiệp, nội dung đào tạo phải thường xuyên cập nhật công nghệ, và thời lượng thực hành phải đáp ứng yêu cầu và người học cần được tiếp cận môi trường sản xuất thực tế ngay trong quá trình học.

Đặc biệt, quan hệ giữa nhà trường và doanh nghiệp không nên chỉ dừng lại ở việc doanh nghiệp đến tuyển dụng khi người học sắp tốt nghiệp mà doanh nghiệp cần tham gia xuyên suốt quá trình đào tạo, từ dự báo nhu cầu nhân lực, xây dựng chương trình, tham gia đào tạo, đánh giá kỹ năng nghề đến tổ chức thực tập và tuyển dụng.

Theo thầy Quang, khi kết quả việc làm được công khai minh bạch, đây sẽ trở thành cơ sở để tạo ra một cơ chế cạnh tranh lành mạnh giữa các cơ sở giáo dục nghề nghiệp. Trường nào đào tạo tốt, gắn chặt với doanh nghiệp và giúp người học có việc làm phù hợp sẽ được người học và xã hội ghi nhận. Ngược lại, nếu kết quả việc làm thấp hoặc số liệu không thuyết phục, nhà trường sẽ phải nhìn lại chương trình, đội ngũ, phương pháp đào tạo và cách thức hợp tác với doanh nghiệp.

“Công khai thông tin chỉ thực sự có ý nghĩa khi thông tin chính xác, có thể kiểm chứng và được cập nhật thường xuyên. Nếu chỉ công khai để đáp ứng yêu cầu thủ tục mà thông tin chưa phản ánh đúng chất lượng đào tạo và kết quả việc làm thì chưa thể tạo dựng niềm tin với người học.

Vì vậy, tôi kỳ vọng việc thực hiện yêu cầu này sẽ góp phần đưa giáo dục nghề nghiệp chuyển mạnh từ tuyển sinh bằng quảng bá sang thu hút người học bằng chất lượng và kết quả đầu ra. Khi người học có đầy đủ thông tin để lựa chọn, các cơ sở đào tạo sẽ có thêm động lực nâng cao chất lượng, còn doanh nghiệp có thêm niềm tin vào nguồn nhân lực được đào tạo.

Đó chính là cơ chế cạnh tranh lành mạnh để nâng cao chất lượng đào tạo và từng bước nâng tầm vị thế của giáo dục nghề nghiệp”, thầy Quang bày tỏ.

ĐÀO HIỀN