Trường đại học làm gì để thay đổi định kiến tốt nghiệp ngành Dược chỉ để mở quầy thuốc?

14/09/2026 06:20
LÃ TIẾN

GDVN - Đào tạo nhân lực ngành Dược đang đứng trước yêu cầu ngày càng cao về năng lực chuyên môn và khả năng đáp ứng yêu cầu thực tiễn. Điều này đòi hỏi trường đại học cần đổi mới chương trình, gắn đào tạo với nhu cầu của ngành và thị trường lao động.

Trong bối cảnh ngành Dược ngày càng giữ vai trò quan trọng trong chăm sóc sức khỏe cộng đồng, yêu cầu về chất lượng nguồn nhân lực đang đặt ra nhiều vấn đề cần được nhìn nhận nghiêm túc. Không chỉ dừng ở việc trang bị kiến thức chuyên môn, đào tạo nhân lực Dược hiện nay còn phải đáp ứng yêu cầu về thực hành nghề nghiệp, năng lực nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ và khả năng thích ứng với những thay đổi nhanh của lĩnh vực dược phẩm.

Thực tế này đặt ra không ít trăn trở về chương trình đào tạo, chất lượng thực hành, đội ngũ giảng viên cũng như sự gắn kết giữa nhà trường và nhu cầu sử dụng nhân lực, qua đó đòi hỏi những giải pháp căn cơ để nâng cao chất lượng đào tạo ngành Dược trong thời gian tới.

Là cơ sở có truyền thống đào tạo ngành Dược, những năm gần đây, Trường Đại học Y Dược Hải Phòng không ngừng đổi mới chương trình, nâng cao chất lượng đào tạo nhằm đáp ứng nhu cầu của thị trường.

Nhu cầu nhân lực Dược phân bố chưa đồng đều giữa các lĩnh vực

Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Thị Thu Phương - Trưởng khoa, Khoa Dược học, Trường Đại học Y Dược Hải Phòng thông tin: Khoa Dược học được thành lập năm 2011, tuyển sinh khóa Dược sĩ đầu tiên năm 2012 và có khóa tốt nghiệp đầu tiên năm 2017. Chương trình đào tạo được công nhận đạt tiêu chuẩn chất lượng giáo dục năm 2022. Trong giai đoạn 2026-2031, nhà trường tiếp tục đổi mới chương trình theo hướng giáo dục dựa trên chuẩn đầu ra, tăng học tập tại cơ sở thực hành, gắn đào tạo với nghiên cứu, phục vụ cộng đồng và hội nhập quốc tế.

Theo cô Phương, trong 2–3 năm gần đây, mức độ cạnh tranh trong tuyển sinh ngành Dược tại trường có sự biến động. Từ năm 2021 đến nay, điểm trúng tuyển theo kết quả thi tốt nghiệp trung học phổ thông của trường dao động từ 20 đến 26,05 điểm tùy tổ hợp.

Biến động tuyển sinh diễn ra trong bối cảnh nhu cầu nhân lực ngành Dược phân bố chưa đồng đều giữa các lĩnh vực. Báo cáo của Ngân hàng Thế giới năm 2024 dẫn số liệu Việt Nam có 3,39 dược sĩ trên 10.000 dân, trong khi mật độ điểm bán thuốc đạt 102 trên 100.000 dân, cao gấp khoảng 4 lần mức trung bình toàn cầu.

Sự chênh lệch này cho thấy mạng lưới bán lẻ phát triển rộng nhưng chưa phản ánh đầy đủ năng lực nhân lực tại bệnh viện, sản xuất, bảo đảm chất lượng, kiểm nghiệm, đăng ký thuốc, thử nghiệm lâm sàng, cảnh giác dược và nghiên cứu. Cơ hội nghề nghiệp vẫn hiện hữu, song ngày càng đòi hỏi người tốt nghiệp có năng lực chuyên môn phù hợp với từng vị trí thay vì chỉ có văn bằng.

1wupukm7qlb9mfmhto6byuijdkhi2kfnyioskcgouzu27fidtieojorilcuanng44up-1-4533.jpg
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Thị Thu Phương - Trưởng khoa, Khoa Dược học, Trường Đại học Y Dược Hải Phòng. Ảnh: NVCC

Theo cô Phương, việc người học chạy theo "phong trào" hoặc tâm lý ngắn hạn (thấy ngành nào dễ xin việc/nhàn nhã thì học) đang tạo ra những rủi ro lớn cho chính bản thân các em lẫn cơ cấu nhân lực y tế.

Trước hết, Dược học là chương trình kéo dài 5 năm, có khối lượng lớn về hóa học, sinh học, dược lý, bào chế, kiểm nghiệm, quản lý và thực hành nghề nghiệp. Người học cần tư duy khoa học, tính chính xác, khả năng xử lý dữ liệu, giao tiếp với người bệnh và tinh thần chịu trách nhiệm. Nếu quyết định chỉ dựa trên suy nghĩ “dễ xin việc” hoặc “sau này mở nhà thuốc”, các em dễ hụt hẫng khi gặp yêu cầu học tập và thực hành cao; từ đó học đối phó, thiếu đầu tư cho năng lực cốt lõi hoặc phải chuyển hướng sau khi đã dành nhiều năm và chi phí cho ngành học.

Rủi ro thứ hai liên quan trực tiếp đến an toàn người bệnh. Sai sót trong lựa chọn thuốc, liều dùng, tương tác, chống chỉ định, cấp phát hoặc tư vấn đều có thể gây hậu quả trên lâm sàng.

Rủi ro thứ ba là mất cân đối cơ cấu nhân lực. Trong khảo sát toàn quốc công bố năm 2022, có từ 88-89,3% bệnh viện tham gia cho biết thường xuyên thực hiện các hoạt động như thông tin thuốc, cảnh giác dược và xây dựng quy trình; tuy nhiên, chỉ 39,9% dược sĩ lâm sàng cho biết hoạt động chăm sóc trực tiếp trên người bệnh đã được triển khai chính thức tại bệnh viện của họ. Thị trường lao động vì thế cần nhân lực đúng chuyên môn, đúng năng lực và đúng vị trí, chứ không đơn thuần cần tăng số người có bằng Dược.

Học ngành Dược ra trường không phải chỉ để mở quầy thuốc

Nhiều phụ huynh và học sinh vẫn giữ quan niệm “học Dược ra chỉ để mở quầy bán thuốc”. Dưới góc độ quản lý đào tạo, Trưởng khoa, Khoa Dược học, Trường Đại học Y Dược Hải Phòng cho rằng quan niệm này mới phản ánh một phần của nghề Dược. Dược cộng đồng là lĩnh vực có quy mô lớn, theo Liên đoàn Dược phẩm Quốc tế, hơn 77% nhân lực dược toàn cầu làm việc trong môi trường cộng đồng. Tại nhà thuốc, trách nhiệm của dược sĩ bao gồm sàng lọc trường hợp cần chuyển khám, kiểm tra tính phù hợp của đơn, phòng ngừa tương tác và lạm dụng thuốc, hướng dẫn sử dụng, hỗ trợ tuân thủ và giáo dục sức khỏe.

Phạm vi hành nghề của dược sĩ bao phủ toàn bộ vòng đời của thuốc: nghiên cứu hoạt chất, phát triển công thức, sản xuất, kiểm nghiệm, đăng ký, quản lý chất lượng, lựa chọn, mua sắm, bảo quản, phân phối, theo dõi hiệu quả - an toàn và quản lý sau lưu hành. Người tốt nghiệp có thể làm việc tại bệnh viện, cơ quan quản lý, viện kiểm nghiệm, doanh nghiệp sản xuất - kinh doanh, tổ chức nghiên cứu lâm sàng, trường đại học, viện nghiên cứu, đơn vị bảo hiểm hoặc doanh nghiệp công nghệ y tế.

Cô Phương cũng nhấn mạnh, vai trò quan trọng của Dược sĩ trong xu hướng “điều trị đích” và y học cá thể hóa hiện đại. Theo đó, điều trị đích và y học cá thể hóa làm thay đổi cách sử dụng thuốc. Cùng một chẩn đoán, người bệnh có thể cần thuốc hoặc liều khác nhau tùy đích phân tử, dấu ấn sinh học, đặc điểm di truyền, chức năng gan thận, tuổi, bệnh kèm, các thuốc đang dùng và đáp ứng thực tế. Dược sĩ là người kết nối bằng chứng về thuốc với dữ liệu của từng người bệnh để trả lời những câu hỏi rất cụ thể: thuốc có đúng chỉ định không, liều đã phù hợp chưa, tương tác nào cần tránh, phải theo dõi hiệu quả và độc tính bằng chỉ số nào, và chi phí điều trị có hợp lý không.

1wupukm7qlb9mfmhto6byuj5yl0bv6hlelex8urjsulr7h6uhawwgct3ujrv1pe9rsm.jpg
Hoạt động thực hành ngành Dược tại Trường Đại học Y Dược Hải Phòng. Ảnh: NTCC

Trong thực hành, Trưởng khoa, Khoa Dược học, Trường Đại học Y Dược Hải Phòng khẳng định dược sĩ lâm sàng có thể tham gia các công việc sau:

Lựa chọn điều trị: đối chiếu chỉ định của thuốc đích với dấu ấn sinh học, hướng dẫn điều trị và tiêu chí lựa chọn người bệnh.

Cá thể hóa liều: sử dụng dữ liệu dược động học, chức năng cơ quan, tương tác thuốc, theo dõi nồng độ thuốc và khi phù hợp, thông tin dược lý di truyền.

Quản lý an toàn: phát hiện chống chỉ định, trùng lặp, sai liều, tương tác và biến cố bất lợi; xây dựng kế hoạch theo dõi hiệu quả - độc tính.

Hỗ trợ quyết định: tham gia đánh giá giá trị điều trị, chi phí - hiệu quả, khả năng tiếp cận và dữ liệu thực tế sau sử dụng.

Đồng hành với người bệnh: tư vấn cách dùng, xử trí tác dụng không mong muốn, chăm sóc hỗ trợ và tăng tuân thủ điều trị.

Bên cạnh đó, trong Hội đồng Thuốc và Điều trị, dược sĩ tham gia xây dựng danh mục thuốc, hướng dẫn sử dụng, tiêu chí lựa chọn thuốc, quản lý kháng sinh, giám sát an toàn và phân tích sử dụng thuốc. Tại khoa lâm sàng, dược sĩ rà soát hồ sơ, tham gia giao ban hoặc đi buồng, đề xuất giải pháp cho từng ca bệnh và cùng theo dõi kết quả điều trị.

Tại Việt Nam, Nghị định số 131/2020/NĐ-CP của Chính phủ quy định về tổ chức, hoạt động dược lâm sàng của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có hiệu lực từ ngày 1/1/2021 đã quy định lộ trình tổ chức hoạt động dược lâm sàng tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh. Vị thế chuyên môn của dược sĩ được thể hiện qua chất lượng khuyến nghị dựa trên bằng chứng, khả năng trao đổi trong nhóm điều trị, việc ghi nhận can thiệp và tác động đối với kết quả của người bệnh.

Đổi mới chương trình, tăng cường thực hành với mô hình Nhà trường - Bệnh viện - Doanh nghiệp

Theo cô Phương, sức hút thực chất của ngành Dược phải được tạo nên từ chất lượng học tập và năng lực nghề nghiệp của sinh viên sau tốt nghiệp. Chương trình đào tạo của nhà trường giai đoạn 2026-2031 được thiết kế theo giáo dục dựa trên chuẩn đầu ra, gồm 5 mục tiêu đào tạo, 9 chuẩn đầu ra và các chỉ báo đo lường. Các thành phần này được liên kết với từng học phần, phương pháp dạy - học và lượng giá nhằm bảo đảm có thể đánh giá người học thực sự đạt được năng lực nào.

Những thay đổi chính của chương trình gồm:

Tăng thực hành và tạo lộ trình nghề nghiệp: chương trình có 160 tín chỉ, trong đó 64 tín chỉ thực hành/lâm sàng, tương đương 40%. Sinh viên lựa chọn một trong hai định hướng 15 tín chỉ: Thực hành Dược hoặc Khoa học Dược.

Đưa người học đến cơ sở thực hành sớm hơn: sinh viên tiếp cận bệnh viện từ năm thứ hai, sau đó mở rộng sang nhà thuốc cộng đồng, dược lâm sàng, công nghiệp dược và thực hành nâng cao ở năm cuối.

Đổi mới cách dạy và cách đánh giá: tăng học theo ca bệnh, theo nhóm, theo dự án, mô phỏng, dạy học kết hợp và học tại nơi làm việc; kết hợp thi viết với OSPE, đánh giá thực hành, đánh giá tại cơ sở và hồ sơ năng lực.

Cập nhật năng lực mới: tăng cường y học chứng cứ, an toàn thuốc, dược động học, dược lý di truyền, kinh tế dược, dược dịch tễ, trí tuệ nhân tạo, tiếng Anh chuyên ngành và các năng lực giao tiếp, cộng tác, quản lý và hợp tác liên chuyên môn.

Gắn nghiên cứu với đào tạo: sinh viên học phương pháp nghiên cứu, tham gia nhóm nghiên cứu và có thể lựa chọn khóa luận hoặc đề án tốt nghiệp 6 tín chỉ.

Hướng nghiệp có hệ thống: học phần Định hướng nghề nghiệp cùng với các hoạt động ngoại khóa trong chương trình giúp sinh viên gặp nhà tuyển dụng, cựu sinh viên và chuyên gia; hiểu yêu cầu của từng vị trí và xây dựng kế hoạch phát triển cá nhân.

1wupukm7qlb6uxcrcorwhxpibsrq68bjxuhyrgowiwpfzhheyaf6yomwmvraxpeaas6.jpg
Nhà trường chú trọng đổi mới chương trình đào tạo, tăng cường thời lượng thực hành cho sinh viên. Ảnh: NTCC

Về nguồn lực, chương trình huy động 111 giảng viên trong toàn trường, trong đó có 40 giảng viên chuyên ngành Dược; 100% có trình độ sau đại học và 40% có trình độ tiến sĩ. Khoa có 6 bộ môn và 9 phòng thực hành, thí nghiệm chuyên ngành; đồng thời liên kết với hai trung tâm nghiên cứu của trường, tập trung vào thử nghiệm lâm sàng - tương đương sinh học và nghiên cứu, phát triển dược liệu biển, qua đó mở rộng môi trường nghiên cứu ứng dụng cho giảng viên và sinh viên.

Chương trình được đối sánh với các cơ sở đào tạo Dược trong nước và một số trường trong khu vực, gồm Seoul National University, Chungnam National University và Mahidol University. Chuẩn đầu ra được đối chiếu với Khung trình độ quốc gia, Chuẩn năng lực cơ bản của Dược sĩ Việt Nam và các khung năng lực quốc tế. Sau khi chương trình được công nhận đạt tiêu chuẩn chất lượng giáo dục năm 2022, khoa đang triển khai tự đánh giá theo AUN-QA phiên bản 4.0, tập trung vào minh chứng mức độ đạt chuẩn đầu ra và việc cải tiến chương trình từ phản hồi của các bên liên quan.

Hợp tác trong nước tập trung vào mạng lưới thực hành và đồng đào tạo. Sinh viên được bố trí tại 13 bệnh viện giảng dạy lâu năm ở Hải Phòng, Quảng Ninh, các hệ thống nhà thuốc cộng đồng có uy tín, đủ điều kiện cùng các cơ sở sản xuất, kiểm nghiệm và doanh nghiệp dược.

Hợp tác quốc tế được triển khai theo hướng có sản phẩm cụ thể. Quan hệ với Chungnam National University được duy trì từ năm 2016 thông qua trao đổi giảng viên, sinh viên và nghiên cứu chung; năm 2024, hai trường ký thỏa thuận hợp tác mới và thành lập Trung tâm Toàn cầu tại Chungnam. Khoa đồng thời phát triển quan hệ học thuật với các trường Dược tại Hoa Kỳ, Nhật Bản, Thái Lan, Hàn Quốc và Canada. Nhà trường là thành viên học thuật của FIP và tham gia mạng lưới FIP/UNESCO UNITWIN, qua đó mở rộng cơ hội đối sánh chương trình, trao đổi học thuật và phát triển giảng viên.

Nghiên cứu của khoa tập trung vào dược lâm sàng, an toàn thuốc, dược lý lâm sàng, dược lý di truyền và cá thể hóa liều; dược dịch tễ - kinh tế dược; bào chế, kiểm nghiệm và tương đương sinh học; dược liệu, tài nguyên biển; cùng ứng dụng dữ liệu và trí tuệ nhân tạo. Năm 2026, dự án PharmAI-Safe, sử dụng AI có đối chiếu nguồn để hỗ trợ dược sĩ phát hiện tương tác thuốc chống chỉ định từ hình ảnh đơn thuốc, được FIP Foundation - Academic Pharmacy Section lựa chọn tài trợ. Kết quả nghiên cứu dự kiến được tích hợp vào hoạt động đào tạo và hỗ trợ thực hành an toàn thuốc.

Cam kết đầu ra của nhà trường được thể hiện bằng những nội dung có thể kiểm chứng: công khai chuẩn đầu ra; bảo đảm cơ hội thực hành; đánh giá năng lực minh bạch; hỗ trợ ngoại ngữ, kỹ năng số và định hướng nghề nghiệp; kết nối với nhà tuyển dụng; khảo sát việc làm sau tốt nghiệp; đồng thời sử dụng phản hồi của cựu sinh viên và người sử dụng lao động để cải tiến chương trình.​

LÃ TIẾN