Ưu đãi về thuế, tín dụng và công nghệ là đòn bẩy để CSGDĐH chủ động nguồn lực

15/09/2026 06:20
Hồng Linh

GDVN - Các ưu đãi dành cho cơ sở giáo dục được nêu tại Nghị định 334/2026/NĐ-CP được kỳ vọng trở thành đòn bẩy tài chính và công nghệ cho phát triển của các nhà trường nói riêng và giáo dục nói chung.

Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 334/2026/NĐ-CP quy định về tự chủ của cơ sở giáo dục đại học, cơ sở giáo dục nghề nghiệp; cơ chế tài chính đối với giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp; chương trình trọng điểm quốc gia đào tạo tiến sĩ toàn thời gian.

Một trong những quy định nhận được nhiều sự quan tâm từ phía các trường đại học là về cơ chế ưu đãi. Theo đó, cơ sở giáo dục được hưởng ưu đãi về thuế và đất đai; ưu đãi về tín dụng; ưu đãi về công nghệ.

Tạo nền tảng để các trường đại học chủ động hơn về nguồn lực đầu tư

Bàn luận về nội dung này, trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Vũ Quỳnh - Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Lạc Hồng khẳng định đây là chính sách có ý nghĩa thiết thực đối với quá trình phát triển dài hạn của các trường đại học.

Nếu chính sách đất đai và thuế được triển khai đồng bộ, ổn định và có thủ tục thuận lợi, các trường sẽ có điều kiện chuyển nguồn lực từ việc phải dành quá nhiều chi phí cho đầu tư ban đầu sang nâng cao chất lượng đào tạo, đầu tư thiết bị hiện đại và phát triển năng lực nghiên cứu. Ở góc độ rộng hơn, đây cũng là cách Nhà nước tạo điều kiện để các trường đại học trở thành hạt nhân phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và nguồn nhân lực chất lượng cao của từng địa phương và quốc gia.

Bên cạnh đó, với ưu đãi về tín dụng, Nghị định nêu, dự án đầu tư xây dựng phòng thí nghiệm hiện đại, xưởng thực hành, cơ sở đổi mới sáng tạo phục vụ nâng cao chất lượng giáo dục được ưu tiên xem xét đưa vào danh mục lĩnh vực đầu tư, cho vay và được áp dụng lãi suất vay ưu đãi từ Quỹ Đầu tư phát triển địa phương và các nguồn vốn hợp pháp khác khi đáp ứng điều kiện cho vay của Quỹ Đầu tư phát triển địa phương.

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Vũ Quỳnh chỉ ra, những dự án trên thường cần nguồn vốn đầu tư ban đầu rất lớn, trong khi hiệu quả của khoản đầu tư không phải lúc nào cũng có thể thu hồi trong thời gian ngắn. Vì vậy, cơ chế trên là rất đáng kỳ vọng. Tuy nhiên, mấu chốt nằm ở khâu triển khai. Trên thực tế, các trường có thể vẫn gặp một số khó khăn.

Đầu tiên là điều kiện tín dụng và phương án trả nợ. Một dự án giáo dục có thể có giá trị xã hội rất lớn nhưng dòng tiền trực tiếp để hoàn vốn không phải lúc nào cũng cao như một dự án thương mại. Bên cạnh đó là tài sản bảo đảm và cơ chế sử dụng tài sản của các trường, đặc biệt đối với cơ sở giáo dục công lập. Đây có thể là vấn đề cần được hướng dẫn rất cụ thể để các ngân hàng, quỹ đầu tư và nhà trường có cùng cách hiểu và có thể triển khai.

Cuối cùng là quy trình lập, thẩm định và phê duyệt dự án. Nếu mỗi địa phương hoặc mỗi tổ chức tín dụng có cách hiểu khác nhau sẽ làm giảm tính hấp dẫn của chính sách. Do vậy, cần có hướng dẫn theo hướng đơn giản hóa hồ sơ, xác định rõ tiêu chí dự án giáo dục được ưu đãi và có cơ chế đánh giá phù hợp với đặc thù đầu tư giáo dục.

Dưới góc nhìn của Tiến sĩ Nguyễn Minh Anh Tuấn - Hiệu trưởng Trường Đại học Tân Trào, Nghị định 334/2026/NĐ-CP tạo ra nền tảng để các trường đại học chủ động hơn về nguồn lực đầu tư, dù không trực tiếp đặt ra một gói ưu đãi riêng về thuế và đất đai mà liên thông với các văn bản quy phạm pháp luật khác.

Điểm đáng chú ý nhất là lần đầu tiên có quy định trường đại học công lập được ưu đãi về thuế và đất đai. Điều này tạo cho các trường cơ hội có đủ diện tích hoạt động theo quy định của chuẩn cơ sở giáo dục đại học; giúp các trường thuận lợi hơn, tiết kiệm chi và giảm gánh nặng học phí cho người học; hỗ trợ người học được học tập trong môi trường phù hợp với chi phí hợp lý; nhà giáo có điều kiện làm việc tốt để phát huy khả năng sáng tạo trong giảng dạy.

Chính sách này cũng giúp cơ sở giáo dục công lập tiết kiệm, sử dụng các nguồn tài chính để phục vụ đào tạo, nghiên cứu khoa học và phát triển cơ sở vật chất; trong đó có đầu tư, cải tạo, nâng cấp, sửa chữa, bảo dưỡng cơ sở vật chất và mua sắm tài sản, trang thiết bị.

Về thực tiễn, đây là sự chuyển từ tư duy “xin - cho từng khoản chi” sang chủ động phân bổ nguồn lực theo chiến lược phát triển trường. Một trường có thể ưu tiên vốn cho giảng đường, phòng thí nghiệm, thư viện số, trung tâm nghiên cứu, hạ tầng công nghệ hoặc không gian đổi mới sáng tạo, miễn là phù hợp quy chế nội bộ và pháp luật.

Đặc biệt, Nghị định cho phép cơ chế tự chủ gắn với huy động và sử dụng nguồn lực, đồng thời Nhà nước tiếp tục hỗ trợ, đầu tư, đặt hàng hoặc giao nhiệm vụ đối với ngành trọng điểm, khoa học cơ bản, công nghệ cao và các lĩnh vực có ý nghĩa chiến lược. Vì thế, tác động lớn nhất không nằm ở việc “có thêm đất” một cách tự động, mà ở khả năng hình thành năng lực tài chính và quản trị để biến quỹ đất, tài sản và nguồn vốn thành không gian đào tạo - nghiên cứu hiệu quả.

Đối với các trường đại học, đây là cơ sở thuận lợi để xây dựng kế hoạch mở rộng theo chiều sâu, gắn đầu tư cơ sở vật chất với quy mô tuyển sinh, chất lượng đào tạo, năng lực nghiên cứu và định hướng phát triển dài hạn; đi cùng công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình.

Đối với chính sách ưu đãi tín dụng, Hiệu trưởng Trường Đại học Tân Trào chỉ ra, chính sách này phù hợp với nhu cầu đầu tư của đơn vị, đặc biệt khi nhà trường đang có định hướng nâng cao chất lượng đào tạo gắn với thực hành, nghiên cứu khoa học và đổi mới sáng tạo trong bối cảnh đầu tư của ngân sách còn hạn chế.

Cụ thể, cơ chế trên có thể đem lại 4 lợi ích. Đó là giảm áp lực vốn đầu tư ban đầu, các công trình có giá trị lớn như phòng thí nghiệm, xưởng thực hành thường vượt khả năng cân đối từ nguồn thu thường xuyên của trường. Vốn tín dụng ưu đãi giúp nhà trường có thêm một kênh huy động vốn trung và dài hạn. Cho phép đầu tư và đưa vào sử dụng sớm hơn thay vì phải tích lũy đủ vốn mới triển khai, trường có thể chủ động xây dựng dự án theo lộ trình, nhanh chóng hình thành các không gian đào tạo và nghiên cứu hiện đại.

Từ đó, tạo tác động trực tiếp đến chất lượng đào tạo. Xưởng thực hành và phòng thí nghiệm đạt chuẩn giúp tăng tỷ trọng học tập thực hành, triển khai các đề tài nghiên cứu, hợp tác doanh nghiệp và phát triển các chương trình đào tạo có tính ứng dụng. Ngoài ra, cũng tăng khả năng huy động các nguồn lực khác. Khi có cơ sở vật chất tốt, trường có thể thuận lợi hơn trong hợp tác nghiên cứu với đối tác, chuyển giao công nghệ, đào tạo theo đặt hàng và thu hút người học.

Cũng cần xác định rõ đây không phải nguồn vốn “được cấp” mà thực hiện theo cơ chế tín dụng. Do vậy, trước khi đề xuất dự án, cần chứng minh hiệu quả đầu tư, khả năng trả nợ và dòng tiền; đồng thời xác định rõ dự án nào thực sự tạo giá trị học thuật và nguồn thu. Đây là điều kiện quyết định để biến ưu đãi tín dụng thành đòn bẩy phát triển cơ sở vật chất, thay vì trở thành áp lực tài chính cho nhà trường.

794234927-1678611310938197-3113549523350468945-n.jpg
Tiến sĩ Nguyễn Minh Anh Tuấn - Hiệu trưởng Trường Đại học Tân Trào. Ảnh: Website nhà trường.

Ưu đãi về công nghệ tạo ra nhiều động lực cho chuyển đổi số giáo dục

Liên quan đến ưu đãi về công nghệ, Nghị định 334/2026/NĐ-CP quy định, các khoản đầu tư phát triển hạ tầng số, nền tảng số đồng bộ theo hình thức công tư phục vụ mục đích chuyển đổi số giáo dục được hưởng các chính sách ưu đãi, hỗ trợ theo quy định của pháp luật về đầu tư, công nghiệp công nghệ số, thuế và các quy định pháp luật có liên quan.

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Vũ Quỳnh nhấn mạnh, đây là một trong những điểm rất đáng chú ý của Nghị định bởi chuyển đổi số trong giáo dục đại học hiện nay đã chuyển từ câu chuyện “ứng dụng công nghệ” sang “xây dựng hạ tầng và hệ sinh thái giáo dục số”.

Điều này tạo ra ít nhất 3 động lực. Trước tiên, tạo động lực để các trường mạnh dạn đầu tư dài hạn cho hạ tầng số. Khi chính sách xác định đây là một lĩnh vực được ưu đãi, các trường có thêm cơ sở để xây dựng các dự án lớn thay vì đầu tư nhỏ lẻ.

Song song với đó thúc đẩy hợp tác giữa nhà trường và doanh nghiệp công nghệ. Nhà trường có nhu cầu về dữ liệu, AI, LMS, điện toán đám mây, an toàn thông tin, phòng thí nghiệm số... trong khi doanh nghiệp có công nghệ và năng lực triển khai. Cơ chế hợp tác công tư có thể giúp hai bên chia sẻ nguồn lực và cùng phát triển các nền tảng phục vụ giáo dục.

Cuối cùng, tạo điều kiện hình thành hệ sinh thái giáo dục số có khả năng liên thông. Nghị định cũng giao Bộ Giáo dục và Đào tạo xây dựng, hướng dẫn, quản lý và vận hành nền tảng số kết nối đào tạo nhân lực phục vụ quản lý nhà nước; đồng thời xây dựng quy định về quản lý dữ liệu, kết nối dữ liệu và chuyển đổi số trong giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp.

Đặc biệt, Nghị định còn cho phép cơ sở giáo dục triển khai cơ chế thử nghiệm có kiểm soát đối với các mô hình giáo dục số, công nghệ giáo dục, ứng dụng AI và khởi nghiệp đổi mới sáng tạo theo đề án được cấp có thẩm quyền phê duyệt. Đây là một điểm rất phù hợp với yêu cầu đổi mới giáo dục trong giai đoạn hiện nay.

Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Lạc Hồng cũng chỉ ra: "Hiệu quả của các cơ chế ưu đãi sẽ phụ thuộc rất lớn vào các văn bản hướng dẫn và cách tổ chức thực hiện. Trước hết, chính sách phải đủ rõ để các trường biết mình được hưởng gì, điều kiện như thế nào và cơ quan nào chịu trách nhiệm giải quyết. Ví dụ, với ưu đãi thuế và đất đai, cần có hướng dẫn cụ thể để nhà trường có thể xác định ngay từ khi lập dự án những ưu đãi nào có thể áp dụng.

Đối với tín dụng, tôi mong muốn có một quy trình riêng hoặc tiêu chí phù hợp đối với các dự án đầu tư giáo dục, nhất là những dự án phòng thí nghiệm, trung tâm đổi mới sáng tạo và xưởng thực hành công nghệ cao. Không nên đánh giá hoàn toàn giống một dự án kinh doanh thông thường, bởi hiệu quả của đầu tư giáo dục còn thể hiện qua chất lượng nguồn nhân lực, nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ và đóng góp cho phát triển kinh tế - xã hội.

Đối với công nghệ, tôi kỳ vọng thúc đẩy mạnh hơn mô hình Nhà nước - nhà trường - doanh nghiệp công nghệ cùng đầu tư và khai thác. Nhà nước tạo hành lang và chính sách; trường đại học xác định nhu cầu đào tạo, nghiên cứu; doanh nghiệp đưa công nghệ, nguồn lực và nhu cầu thực tế vào quá trình hợp tác.

Một điểm cần quan tâm khác là cần có sự đồng bộ giữa các bộ, ngành và địa phương. Bởi một dự án của trường đại học có thể cùng lúc liên quan đến giáo dục, đầu tư, đất đai, thuế, tín dụng, tài sản công, công nghệ và ngân sách. Nếu từng lĩnh vực đều có chính sách nhưng thủ tục giữa các cơ quan không đồng bộ thì khả năng tiếp cận chính sách sẽ bị hạn chế".

img-0082.jpg
Phó Giáo sư. Tiến sĩ Nguyễn Vũ Quỳnh - Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Lạc Hồng. Ảnh: Website nhà trường.

Theo quan điểm của Tiến sĩ Nguyễn Minh Anh Tuấn, chính sách ưu đãi về công nghệ là có thể làm thay đổi cách các trường đại học tiếp cận chuyển đổi số, từ việc tự bỏ toàn bộ vốn để mua sắm công nghệ sang mô hình cùng đầu tư, cùng khai thác và cùng tạo giá trị với doanh nghiệp công nghệ.

Tác động đầu tiên là giảm áp lực đầu tư ban đầu, hạ tầng số như trung tâm dữ liệu, nền tảng quản trị, LMS, thư viện số, AI và các hệ thống dữ liệu có chi phí đầu tư và nâng cấp lớn. Hợp tác công tư giúp trường tiếp cận nguồn lực công nghệ và vốn của doanh nghiệp.

Cùng với đó là tiếp cận công nghệ nhanh hơn. Doanh nghiệp có năng lực cập nhật công nghệ, trong khi trường cung cấp môi trường học thuật, dữ liệu và nhu cầu thực tế. Hai bên có thể cùng phát triển các giải pháp phù hợp với sự phát triển của giáo dục đại học nói chung, mỗi nhà trường nói riêng.

Nhà trường cũng có thể kết nối nền tảng đào tạo - nghiên cứu - quản trị - dữ liệu - đổi mới sáng tạo trên một cấu trúc thống nhất. Biến chuyển đổi số thành hệ sinh thái, không chỉ là mua phần mềm.

Doanh nghiệp không chỉ là nhà cung cấp mà có thể trở thành đối tác đầu tư, đồng phát triển sản phẩm, hỗ trợ phòng thí nghiệm số, đào tạo nhân lực và chuyển giao công nghệ. Từ đó, tạo động lực thúc đẩy hợp tác doanh nghiệp - nhà trường.

“Đây là cơ hội đáng chú ý để các trường xây dựng đề án chuyển đổi số theo mô hình đối tác, ưu tiên những hạng mục có tác động trực tiếp đến chất lượng đào tạo và nghiên cứu. Mặc dù vậy, cần đặc biệt chú trọng bảo vệ dữ liệu, sở hữu trí tuệ, khả năng liên thông hệ thống, tính minh bạch và phương án tài chính dài hạn; Nghị định cũng yêu cầu việc huy động nguồn lực phải hiệu quả, công khai và không làm phát sinh nghĩa vụ nợ cho ngân sách nhà nước, trừ trường hợp pháp luật quy định khác” - thầy Tuấn nêu thêm.

Đề xuất hướng triển khai thực hiện chính sách, Tiến sĩ Nguyễn Minh Anh Tuấn cho rằng, điểm quyết định không nằm ở việc Nghị định đã “trao ưu đãi”, mà ở việc các cơ chế hướng dẫn sau đó phải biến ưu đãi trên giấy thành một quy trình tiếp cận vốn, đất, thuế và công nghệ đủ rõ để trường có thể thực hiện được.

Cần có hướng dẫn dạng “một cửa” để thống nhất thực hiện, xác định rõ đầu mối và hồ sơ. Trường cần biết chính xác dự án nào được hưởng ưu đãi, cơ quan nào xác nhận, hồ sơ gồm những gì, thời hạn giải quyết bao lâu. Ngoài ra, vì có nhiều cơ quan quản lý các trường đại học (các Bộ, các địa phương, đại học vùng…) nên cần có hướng dẫn cụ thể để thực hiện thống nhất.

Có tiêu chí cụ thể để xác định dự án được ưu tiên tín dụng. Cần làm rõ thế nào là “phòng thí nghiệm hiện đại”, “xưởng thực hành”, “cơ sở đổi mới sáng tạo”; mức vốn, thời hạn vay, lãi suất và phương thức bảo đảm. Điều này đặc biệt quan trọng vì Nghị định mới chỉ quy định “ưu tiên xem xét”, không có nghĩa mọi dự án đương nhiên được vay ưu đãi.

Chính sách đất đai phải đi cùng quy hoạch phát triển trường. Các trường cần cơ chế rõ ràng về giao đất, thuê đất, sử dụng đất cho giáo dục, mở rộng cơ sở và phát triển các công trình nghiên cứu, đổi mới sáng tạo; tránh tình trạng có chủ trương nhưng không có quỹ đất hoặc thủ tục triển khai.

Ưu đãi thuế phải đủ cụ thể để doanh nghiệp thực sự muốn hợp tác với trường đại học. Đặc biệt cần làm rõ các khoản đầu tư, tài trợ, chuyển giao công nghệ, thiết bị, nền tảng số và hoạt động nghiên cứu nào được hưởng ưu đãi. Đây sẽ là “đòn bẩy” để doanh nghiệp cùng đầu tư thay vì chỉ cung cấp dịch vụ cho trường.

Điều cốt yếu nhất, chính sách phải gắn với đầu ra. Việc xét hỗ trợ không chỉ dựa vào quy mô công trình mà phải xem xét đến yếu tố vùng miền và tạo cơ hội tiếp cận giáo dục đại học cho vùng dân tộc miền núi, biên giới và hải đảo; số sinh viên được hưởng lợi, năng lực nghiên cứu, công bố/chuyển giao công nghệ, hợp tác doanh nghiệp, hiệu quả sử dụng tài sản và khả năng vận hành sau đầu tư. Điều này phù hợp với tinh thần Nghị định là tự chủ phải gắn với chất lượng, hiệu quả, công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình.

Hồng Linh