Muốn đột phá từ giáo dục, cần phát triển một số trường sư phạm chủ chốt theo hướng tinh hoa

17/09/2026 06:20
Võ Văn Minh

GDVN -Nếu Việt Nam lựa chọn đầu tư một số trung tâm đào tạo và nghiên cứu giáo viên theo hướng tinh hoa, câu hỏi quan trọng không nên chỉ là “trường nào được đầu tư”, mà là: “Trung tâm đó sẽ dẫn dắt lĩnh vực nào của giáo dục và khoa học?”

Một quốc gia muốn đi xa có thể bắt đầu từ nhiều nguồn lực: khoa học, công nghệ, hạ tầng, thể chế, tài chính hay công nghiệp. Nhưng phía sau tất cả những nguồn lực ấy vẫn là một nguồn lực quyết định: con người.

Con người tạo ra tri thức, công nghệ và của cải; xây dựng thể chế; vận hành xã hội và quyết định một quốc gia có thể đi đến đâu.

Vì thế, nếu Việt Nam hướng tới một quốc gia phát triển, hùng cường và bền vững, đầu tư cho con người phải là một trong những đầu tư chiến lược nhất. Và trong chuỗi đầu tư ấy, có một mắt xích đặc biệt: người thầy.

Nhưng người thầy không tự nhiên mà có. Muốn có những thế hệ giáo viên giỏi, trước hết phải có những nơi đủ mạnh để tạo ra tri thức, đào tạo người thầy và dẫn dắt sự phát triển của nghề dạy học. Đây là lúc cần nhìn lại vị trí và sứ mệnh của một số đại học sư phạm chủ chốt.

Không thể chỉ giải bài toán “đủ giáo viên”

Trong nhiều năm, khi nói về đào tạo giáo viên, chúng ta thường quan tâm đến những câu hỏi rất cụ thể: cần bao nhiêu giáo viên, thiếu giáo viên môn nào, tuyển sinh bao nhiêu, đào tạo ở đâu, chương trình thế nào, chính sách tiền lương ra sao...

Tất cả đều cần thiết. Nhưng nếu chỉ nhìn giáo viên như một lực lượng nhân sự cần được cung ứng đủ cho hệ thống, chúng ta mới giải quyết được phần “lượng” của vấn đề. Điều quan trọng hơn là chất lượng và năng lực dẫn dắt.

1.jpg
Ảnh minh họa: Thế Hưng

Một giáo viên giỏi không chỉ cần biết phương pháp dạy học. Họ phải có tri thức chuyên môn sâu, hiểu con người và hiểu quá trình học tập, đồng thời có năng lực nghề nghiệp để thích ứng với những thay đổi của xã hội và công nghệ.

Người dạy Toán phải được nuôi dưỡng trong một môi trường có Toán học mạnh. Người dạy Sinh học cần được tiếp cận với Sinh học hiện đại. Người dạy Ngữ văn, Lịch sử, Địa lí cũng cần đứng trên nền tảng khoa học tương ứng.

Đồng thời, giáo viên của thế kỉ XXI không thể chỉ hiểu “mình dạy cái gì”, mà còn phải hiểu “con người học như thế nào”.

Đó là câu hỏi của Khoa học giáo dục, Tâm lí học, Khoa học nhận thức, Khoa học thần kinh, Đo lường và đánh giá, Giáo dục đặc biệt, Công nghệ giáo dục, AI và khoa học dữ liệu.

Bởi vậy, có một nghịch lí rất đáng suy nghĩ: Muốn nâng chất lượng giáo viên, không thể chỉ đổi mới chương trình đào tạo giáo viên. Phải nâng chất lượng chính những trường đào tạo giáo viên và những lĩnh vực khoa học làm nền tảng cho nghề dạy học.

Giáo dục không bất biến

Giáo dục của hôm nay không thể giống giáo dục của vài thập niên trước, cũng không thể biết chắc giáo dục của hai mươi năm tới sẽ như thế nào.

Công nghệ thay đổi cách con người tiếp cận tri thức. AI đang thay đổi cách con người làm việc và học tập. Khoa học thần kinh và khoa học nhận thức ngày càng giúp chúng ta hiểu sâu hơn về bộ não và quá trình học. Xã hội thay đổi cấu trúc nghề nghiệp, giá trị và cách con người tương tác.

Những thay đổi ấy đặt ra những câu hỏi không thể chỉ trả lời bằng kinh nghiệm quá khứ: Học sinh tương lai cần học gì? Học như thế nào? Nhà trường sẽ thay đổi ra sao? Người thầy sẽ làm gì khi tri thức có thể được AI cung cấp tức thời? Làm thế nào để giáo dục vừa phát triển năng lực cá nhân, vừa hình thành những con người có trách nhiệm với cộng đồng và xã hội?

Đó trước hết là những câu hỏi của khoa học. Vì vậy, một nền giáo dục muốn đi trước sự thay đổi không thể chỉ có những người thực thi chính sách. Nó cần những trung tâm nghiên cứu đủ mạnh để phát hiện vấn đề, tạo ra tri thức, thử nghiệm mô hình và cung cấp bằng chứng cho những quyết định giáo dục.

Nói cách khác, giáo dục muốn đổi mới bền vững phải có năng lực tự nghiên cứu và tự đổi mới. Và đây chính là sứ mệnh mà một số đại học sư phạm chủ chốt cần đảm nhận.

Từ “trường đào tạo giáo viên” đến “đại học dẫn dắt giáo dục”

Nhìn ra thế giới, có thể thấy những cách tiếp cận đáng suy ngẫm.

Ở Pháp, École normale supérieure (ENS) là một mô hình đặc biệt đáng tham khảo về đào tạo tinh hoa gắn với nghiên cứu. ENS không bị giới hạn trong phạm vi đào tạo giáo viên theo nghĩa hẹp mà phát triển một hệ sinh thái học thuật với nhiều lĩnh vực, từ toán học, khoa học tự nhiên đến nhân văn và khoa học xã hội.

Điều đáng học ở đây không nhất thiết là sao chép mô hình tổ chức. Điều đáng suy nghĩ hơn là triết lí phát triển con người có năng lực trí tuệ cao trong môi trường khoa học mạnh.

Một người thầy giỏi trước hết phải là một người có tri thức sâu, tư duy độc lập và khả năng tiếp tục học hỏi. Vì vậy, đào tạo người thầy không thể tách khỏi môi trường nghiên cứu và phát triển tri thức.

Trung Quốc cũng cho thấy một hướng tiếp cận đáng chú ý. Nhiều Normal University hàng đầu vẫn giữ đào tạo giáo viên và giáo dục làm bản sắc, nhưng đồng thời phát triển mạnh theo mô hình đại học nghiên cứu đa ngành, với khoa học cơ bản, khoa học xã hội và nhân văn, công nghệ, khoa học giáo dục và nhiều lĩnh vực liên ngành.

Điểm quan trọng không phải là tên gọi “Normal University”, mà là cách nhìn: Đào tạo giáo viên phải được đặt trong một hệ sinh thái tri thức rộng lớn hơn chính nghề dạy học.

Hai truyền thống khác nhau nhưng cùng gợi ra một bài học: Một đại học sư phạm muốn dẫn dắt giáo dục không thể chỉ mạnh về nghiệp vụ sư phạm. Trường phải mạnh về khoa học, mạnh về nghiên cứu con người, mạnh về khoa học giáo dục và đủ năng lực tạo ra tri thức mới.

Vì sao phải là đa ngành?

Có người có thể đặt câu hỏi: Nếu mục tiêu là đào tạo giáo viên, tại sao trường sư phạm phải phát triển đa ngành?

Câu trả lời nằm ngay trong bản chất của giáo dục.

Giáo dục là một hệ thống phức hợp. Muốn hiểu việc học của một đứa trẻ, không thể chỉ dùng một ngành khoa học. Muốn phát triển nhà trường, cần khoa học giáo dục, tâm lí học, xã hội học, kinh tế học, công nghệ, quản trị và khoa học dữ liệu.

Muốn chuẩn bị cho giáo viên dạy khoa học, phải có những nhà khoa học giỏi về Toán, Vật lí, Hóa học, Sinh học, Tin học...

Muốn hiểu con người, phải có Tâm lí học, Khoa học nhận thức, Khoa học thần kinh và các ngành khoa học xã hội và nhân văn.

Muốn chuẩn bị cho giáo dục tương lai, phải có AI, dữ liệu và công nghệ giáo dục.

Đa ngành vì thế không phải để trường “to hơn”, mà để trường có đủ năng lực khoa học để giải quyết những vấn đề mà giáo dục đặt ra.

Hơn nữa, trong điều kiện nguồn lực quốc gia luôn có giới hạn, một trường đại học đủ lớn và đủ đa ngành còn có khả năng tập trung và chia sẻ đội ngũ chuyên gia, phòng thí nghiệm, dữ liệu, hạ tầng nghiên cứu và mạng lưới quốc tế, thay vì phân tán những nguồn lực vốn đã khan hiếm vào quá nhiều thiết chế nhỏ và tương tự nhau.

Đây cũng là một lí do quan trọng để nhìn nhận lại mô hình trường sư phạm.

Đa ngành không phải là mở rộng ngành học một cách cơ học. Đa ngành phải tạo ra khả năng kết nối tri thức. Đa ngành, nhưng phải có trọng tâm; lớn về hệ sinh thái, mạnh về lĩnh vực; rộng về tri thức, sâu về chuyên môn.

ued.jpg
Ảnh minh họa: nguồn UED

Tinh hoa không có nghĩa là nhỏ

Khi bàn về một số trường sư phạm chủ chốt, có lẽ cần vượt qua một cách hiểu đơn giản rằng “tinh hoa” đồng nghĩa với đào tạo quy mô nhỏ. Không nhất thiết như vậy.

Một trường có thể đào tạo hàng nghìn sinh viên nhưng vẫn phải tinh hoa ở chất lượng đội ngũ, năng lực nghiên cứu, môi trường học thuật, chất lượng người học, chương trình đào tạo, hạ tầng khoa học và khả năng tạo ảnh hưởng.

Tinh hoa trước hết là chiều sâu và năng lực dẫn dắt. Một hệ thống giáo dục quốc dân cần mạng lưới đào tạo giáo viên đủ rộng để đáp ứng nhu cầu của hàng triệu học sinh. Nhưng một mạng lưới rộng lại càng cần một số trung tâm đủ mạnh để dẫn dắt.

Vì vậy, đại trà và tinh hoa không phải hai lựa chọn loại trừ nhau. Đại trà bảo đảm độ rộng của hệ thống. Tinh hoa tạo ra chiều sâu và năng lực dẫn dắt hệ thống.

Điều Việt Nam cần không phải là biến tất cả các trường đại học thành những trường giống nhau, mà là xây dựng một hệ sinh thái trong đó một số đại học sư phạm chủ chốt có đủ nguồn lực và quyền tự chủ học thuật để vươn lên thành những trung tâm tri thức quốc gia về giáo dục và phát triển con người.

Không chỉ đào tạo người thầy, mà phải tạo ra tri thức cho người thầy

Có thể hình dung một đại học sư phạm chủ chốt cần phát triển đồng thời ba tầng năng lực.

Một là, các khoa học nền tảng và chuyên ngành. Toán, Vật lí, Hóa học, Sinh học, Tin học, Ngôn ngữ, Lịch sử, Địa lí, Môi trường... Đây là nền tảng tri thức mà giáo viên mang vào lớp học.

Hai là, khoa học về con người và việc học. Khoa học giáo dục, Tâm lí học, Khoa học nhận thức, Khoa học học tập, Đo lường và đánh giá, Giáo dục đặc biệt, Công nghệ giáo dục, AI và dữ liệu trong giáo dục... Đây là nền tảng để trả lời câu hỏi: Con người học như thế nào và giáo dục nên được thiết kế như thế nào?

Ba là, đào tạo và phát triển đội ngũ giáo dục. Từ giáo viên, giáo viên nòng cốt, cán bộ quản lí giáo dục đến chuyên gia, nhà nghiên cứu và những người có khả năng dẫn dắt đổi mới giáo dục.

Ba tầng này không tách rời nhau. Khoa học tạo ra tri thức. Tri thức soi sáng giáo dục. Giáo dục phát triển người thầy. Người thầy tác động đến người học. Người học tạo nên tương lai của đất nước.

Đó là chuỗi giá trị đặc biệt mà các đại học sư phạm chủ chốt phải có khả năng kiến tạo.

Cần một quy hoạch năng lực, không chỉ quy hoạch trường

Nếu Việt Nam lựa chọn đầu tư một số trung tâm đào tạo và nghiên cứu giáo viên theo hướng tinh hoa, câu hỏi quan trọng không nên chỉ là “trường nào được đầu tư”, mà là: “Trung tâm đó sẽ dẫn dắt lĩnh vực nào của giáo dục và khoa học?”

Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng và các trung tâm khác có thể có những thế mạnh khác nhau. Có nơi có thể nổi trội về khoa học giáo dục và chính sách giáo dục; nơi khác mạnh về STEM, AI và công nghệ giáo dục; nơi khác có thể phát triển khoa học cơ bản, môi trường, biển, đa dạng sinh học, giáo dục hòa nhập hoặc phát triển con người.

Không nhất thiết tất cả cùng làm mọi thứ. Điều quan trọng là hình thành mạng lưới các trung tâm mạnh, có bản sắc và có khả năng bổ trợ cho nhau.

Khi đó, quy hoạch các trường sư phạm không còn đơn thuần là quy hoạch địa điểm, chỉ tiêu hay quy mô tuyển sinh. Đó là quy hoạch năng lực khoa học và năng lực dẫn dắt giáo dục của quốc gia.

Đầu tư cho người thầy là đầu tư cho tương lai

Một phòng thí nghiệm có thể tạo ra một công nghệ. Một doanh nghiệp có thể tạo ra một số sản phẩm. Nhưng một người thầy có thể góp phần tạo nên hàng trăm, hàng nghìn con người trong suốt cuộc đời nghề nghiệp của mình.

Một thế hệ giáo viên tốt có thể tác động đến một thế hệ học sinh. Một thế hệ học sinh được giáo dục tốt lại trở thành những nhà khoa học, kĩ sư, doanh nhân, bác sĩ, nhà quản lí, công dân và những người thầy của các thế hệ tiếp theo. Đó là hiệu ứng lan tỏa đặc biệt của giáo dục.

Vì vậy, đầu tư cho các đại học sư phạm chủ chốt không nên được nhìn như đầu tư cho riêng một nhóm trường hay một nhóm ngành. Đó là đầu tư vào năng lực tự học, tự đổi mới và năng lực phát triển con người của cả quốc gia.

Giáo dục không bất biến. Nếu xã hội thay đổi mà khoa học giáo dục không thay đổi, giáo dục sẽ đi sau xã hội. Nếu công nghệ thay đổi mà nhà trường không thay đổi, người học sẽ được chuẩn bị cho một thế giới đã qua. Nhưng nếu chúng ta có những trung tâm khoa học đủ mạnh để nhìn trước sự thay đổi, tạo ra tri thức mới và chuyển hóa tri thức ấy thành năng lực của người thầy, thì giáo dục không chỉ thích ứng với tương lai.

Giáo dục có thể góp phần tạo ra tương lai. Và đó có lẽ mới là sứ mệnh sâu xa của một đại học sư phạm chủ chốt: Không chỉ đào tạo người thầy cho hôm nay, mà tạo ra tri thức để người thầy có thể dẫn dắt thế hệ mai sau. Bởi cuối cùng, đầu tư cho trường sư phạm không chỉ là đầu tư cho giáo viên. Đó là đầu tư vào những người sẽ giáo dục nguồn lực tương lai của đất nước.

Võ Văn Minh