Dự kiến từ 2028 mỗi ngành chỉ sử dụng 1 phương thức tuyển sinh, trường ĐH nêu quan điểm

22/09/2026 06:20
Trần Trang

GDVN -Lãnh đạo nhà trường ủng hộ đề xuất giảm bớt phương thức tuyển sinh từ năm 2027, nhưng bày tỏ băn khoăn nếu năm 2028 chỉ sử dụng 1 phương thức mỗi ngành.

Bộ Giáo dục và Đào tạo đang lấy ý kiến dự thảo Thông tư sửa đổi, bổ sung một số điều các thông tư của Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành quy định về việc xác định số lượng tuyển sinh, chương trình đào tạo, tuyển sinh và đào tạo cao đẳng ngành Giáo dục mầm non, đại học và sau đại học. Thời gian lấy ý kiến dự thảo đến hết ngày 23/9/2026.

Theo đó, dự thảo Thông tư quy định: “Cơ sở đào tạo sử dụng tối đa 5 phương thức tuyển sinh và mỗi ngành đào tạo, chương trình đào tạo sử dụng 3 phương thức tuyển sinh áp dụng từ năm 2027 và 1 phương thức áp dụng từ năm 2028, không bao gồm phương thức xét tuyển thẳng, xét tuyển đối tượng cử tuyển”.

Lãnh đạo trường đại học ủng hộ việc đơn giản hóa, nâng cao chất lượng tuyển sinh thông qua điều chỉnh các phương thức xét tuyển. Tuy nhiên, đề xuất đến năm 2028 chỉ còn 1 phương thức xét tuyển cho mỗi ngành, chương trình đào tạo đặt ra nhiều băn khoăn.

Chỉ 1 phương thức tuyển sinh, trường lo bỏ sót thí sinh tiềm năng

Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Hoàng Thị Thu Giang - Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Hạ Long cho rằng, việc từng bước tinh gọn số lượng phương thức tuyển sinh là định hướng cần thiết, góp phần làm cho hệ thống tuyển sinh trở nên đơn giản, minh bạch và thuận tiện hơn đối với thí sinh. Thực tế thời gian qua, việc một số cơ sở đào tạo sử dụng quá nhiều phương thức, tên gọi và cách tính điểm khác nhau đã khiến thí sinh và phụ huynh gặp khó khăn khi tìm hiểu, lựa chọn và đăng ký xét tuyển.

Tuy nhiên, quy định từ năm 2028 mỗi ngành, chương trình đào tạo chỉ sử dụng một phương thức tuyển sinh cần được cân nhắc và đánh giá tác động kỹ lưỡng. Thí sinh có điều kiện học tập, năng lực và thế mạnh khác nhau: Có em thể hiện tốt trong kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông, có em có kết quả học tập ổn định trong cả quá trình, có em nổi trội qua các kỳ thi đánh giá năng lực, đánh giá tư duy hoặc các tiêu chí phù hợp với ngành học. Nếu chỉ sử dụng một phương thức duy nhất, cơ hội để các em được đánh giá đầy đủ và phù hợp với thế mạnh của mình có thể bị thu hẹp.

c-giang-4091-3730.jpg
Phó giáo sư, Tiến sĩ Hoàng Thị Thu Giang - Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Hạ Long. Ảnh: NVCC

"Đối với các trường đại học địa phương, việc duy trì một số phương thức tuyển sinh phù hợp không chỉ nhằm bảo đảm hoạt động của nhà trường, mà quan trọng hơn là mở rộng cơ hội học tập cho thí sinh tại địa phương và các khu vực còn hạn chế về điều kiện tiếp cận giáo dục đại học, đồng thời góp phần đào tạo nguồn nhân lực tại chỗ cho phát triển kinh tế – xã hội của vùng.

Vì vậy, nhà trường đồng tình với chủ trương tinh gọn phương thức tuyển sinh, nhưng cho rằng việc tinh gọn cần có lộ trình và nên đảm bảo một mức độ linh hoạt hợp lí. Mỗi cơ sở đào tạo cần được lựa chọn phương thức phù hợp với đặc điểm ngành học, nhóm thí sinh và sứ mạng đào tạo, đồng thời phải giải trình bằng dữ liệu về chất lượng đầu vào và kết quả học tập của sinh viên sau khi trúng tuyển" - cô Giang bày tỏ.

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Hoàng Thị Thu Giang đề xuất, có thể nghiên cứu phương án cho phép mỗi ngành sử dụng tối đa 2 phương thức chủ yếu. Trong trường hợp ngành đào tạo có yêu cầu đặc thù, cơ sở đào tạo được sử dụng thêm phương thức phù hợp nhưng phải công khai căn cứ và chịu trách nhiệm giải trình.

Các phương thức được lựa chọn cần thực sự khác nhau về căn cứ đánh giá, có khả năng nhận diện những nhóm thí sinh phù hợp với yêu cầu đầu vào của chương trình đào tạo và được kiểm chứng bằng dữ liệu về kết quả học tập của sinh viên sau khi nhập học. Những phương thức ít người sử dụng, không tạo ra giá trị phân loại rõ ràng hoặc làm phát sinh thủ tục không cần thiết nên được loại bỏ.

Bên cạnh đó, trước khi áp dụng quy định một phương thức từ năm 2028, nên có đánh giá tổng thể kết quả tuyển sinh năm 2027, đặc biệt là tác động đối với thí sinh ở các địa bàn khác nhau, các ngành đào tạo đặc thù và các cơ sở giáo dục đại học có sứ mạng phục vụ địa phương. Cách tiếp cận này vừa thực hiện được mục tiêu đơn giản hóa, minh bạch hóa tuyển sinh, vừa bảo đảm cơ hội học tập của thí sinh và quyền tự chủ có trách nhiệm của các cơ sở đào tạo.

Cùng bàn luận về chủ đề này, Phó Hiệu trưởng của một trường đại học tư thục tại Hà Nội cho biết, dự thảo Thông tư cho thấy xu hướng đơn giản hóa phương thức tuyển sinh, tăng tính minh bạch và chuẩn hóa chất lượng đầu vào.

Về mặt tích cực, thay đổi này có thể giúp thí sinh dễ hiểu, dễ lựa chọn hơn, giảm tình trạng một ngành có quá nhiều “cửa” xét tuyển và giảm áp lực quy đổi giữa các phương thức. Với các trường đại học, công tác tuyển sinh có thể gọn hơn nhưng trách nhiệm cũng lớn hơn, bởi mỗi trường phải lựa chọn được phương thức thực sự phù hợp với đặc thù ngành và có khả năng tuyển đúng những thí sinh có năng lực học tập tốt.

“Tuy nhiên, tôi cho rằng cần đặc biệt cân nhắc quy định tiến tới một phương thức tuyển sinh từ năm 2028. Nếu chỉ còn một nguồn duy nhất thì có thể làm giảm tính linh hoạt và bỏ sót những thí sinh có năng lực phù hợp với từng ngành” – thầy bày tỏ.

Vị Phó Hiệu trưởng cũng cho rằng, nếu có phương thức xét tuyển cho phép kết hợp nhiều tiêu chí như điểm thi tốt nghiệp trung học phổ thông, kết quả học tập ở trung học phổ thông, ngoại ngữ, năng khiếu… trong một mô hình thống nhất thì đây là cách tiếp cận khá hợp lý.

"Quy chế mới có thể giúp đầu vào đồng đều và công bằng hơn, nhưng chất lượng sinh viên khi tốt nghiệp vẫn phụ thuộc chủ yếu vào chương trình đào tạo, đội ngũ giảng viên, hoạt động thực hành, kiểm tra, đánh giá và mức độ gắn kết với nhu cầu của thị trường lao động. Vì vậy, điều quan trọng không phải là trường có nhiều hay ít phương thức tuyển sinh, mà là phương thức đó có chọn đúng người phù hợp với chương trình đào tạo hay không" - thầy cho hay.

Còn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Bùi Hoài Thắng - Trưởng phòng, Phòng Đào tạo Trường Đại học Bách khoa, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh đề xuất sử dụng phương thức xét tuyển tổng hợp cho phép kết hợp nhiều tiêu chí như điểm thi tốt nghiệp trung học phổ thông, kết quả học tập ở trung học phổ thông, ngoại ngữ, năng khiếu...

Trong mùa tuyển sinh năm 2026, phương thức xét tuyển tổng hợp được nhiều trường đại học áp dụng, trong đó có Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh. Riêng Trường Đại học Bách khoa, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh đã tiên phong áp dụng phương thức xét tuyển tổng hợp từ năm 2022.

pgs-ts-bui-hoai-thang.png
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Bùi Hoài Thắng - Trưởng phòng Phòng Đào tạo, Trường Đại học Bách khoa, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh. Ảnh: website nhà trường.

Theo đó, điểm xét tuyển được xây dựng trên cơ sở đánh giá năng lực tổng hợp của thí sinh, gồm năng lực học tập từ kết quả học tập ở trung học phổ thông, điểm thi tốt nghiệp trung học phổ thông, kết quả kỳ thi đánh giá năng lực của Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh và năng lực hoạt động ngoại khóa, trong đó có các hoạt động văn hóa, thể thao, nghệ thuật và đóng góp cho cộng đồng.

Qua theo dõi và đối sánh, nhà trường nhận thấy điểm xét tuyển tổng hợp có sự tương đồng cao với kết quả học tập của sinh viên. Lựa chọn sinh viên theo phương thức này hiệu quả hơn so với khi chỉ xem xét từng tiêu chí riêng lẻ.

Dù vậy, nếu áp dụng phương thức xét tuyển tổng hợp, cần bảo đảm tính công bằng và khả năng tiếp cận của thí sinh đối với các kỳ thi, phương thức đánh giá khác ngoài kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông.

Cơ sở đào tạo cần rà soát, điều chỉnh thống nhất thang điểm quy đổi

Bên cạnh đó, trong dự thảo cũng quy định: “Mỗi phương thức tuyển sinh phải bảo đảm cơ hội cho tất cả các thí sinh tham gia xét tuyển, quy định rõ các tiêu chí đánh giá, xét tuyển, cách thức tính điểm xét bảo đảm chỉ có duy nhất một thang điểm xét tuyển”.

Theo Phó Hiệu trưởng của trường đại học tư thục, quy định có thể giúp tăng tính minh bạch, dễ hiểu và khả năng so sánh giữa các thí sinh, hạn chế tình trạng cùng một phương thức nhưng có nhiều công thức tính điểm khiến thí sinh khó theo dõi hoặc tạo ra cảm giác thiếu công bằng. Các trường cũng sẽ phải giải trình rõ hơn về trọng số của từng môn, tiêu chí phụ và cách quy đổi.

Dự thảo yêu cầu mỗi phương thức phải có một thang điểm xét tuyển duy nhất, vì vậy nếu một trường đang vừa dùng thang điểm 30, vừa dùng thang điểm 40 cho kết quả thi tốt nghiệp trung học phổ thông thì sẽ phải rà soát lại cách tính điểm, quy đổi và xác định điểm trúng tuyển để đưa về một thang thống nhất.

Về phía cơ sở đào tạo, đây không chỉ là thay đổi kỹ thuật. Những trường đang sử dụng thang 40 để tăng trọng số cho một môn có tính chất đặc thù của ngành sẽ phải thiết kế lại công thức nhưng vẫn phải bảo đảm phản ánh được yêu cầu đầu vào của chương trình. Điều quan trọng là thống nhất thang điểm nhưng không làm mất đi quyền xác định trọng số phù hợp với đặc thù từng ngành.

Vị Phó Hiệu trưởng cho rằng tuyển sinh chỉ là khâu đầu vào. Quy chế mới có thể góp phần tạo ra mặt bằng đầu vào đồng đều và công bằng hơn, nhưng chất lượng sinh viên khi tốt nghiệp vẫn phụ thuộc chủ yếu vào chương trình đào tạo, đội ngũ giảng viên, hoạt động thực hành, kiểm tra đánh giá và mức độ gắn kết với nhu cầu thị trường lao động.

“Vì vậy, điều quan trọng không nằm ở việc một trường có nhiều hay ít phương thức tuyển sinh, mà là phương thức đó có lựa chọn đúng những thí sinh phù hợp với ngành, chương trình đào tạo hay không” – thầy nhấn mạnh.

502582289-1009374491382536-5670491689713893185-n.jpg
Thí sinh tham gia kỳ thi đánh giá năng lực của Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh. Ảnh: Website nhà trường

Cô Giang chỉ ra, quy định mỗi phương thức tuyển sinh chỉ sử dụng một thang điểm xét tuyển có ý nghĩa tích cực trong việc chuẩn hóa cách tính điểm, tăng tính minh bạch và giúp thí sinh dễ dàng so sánh, dự đoán khả năng trúng tuyển. Chẳng hạn, việc cùng một ngành sử dụng đồng thời thang điểm 30 và thang điểm 40 có thể gây khó hiểu, nhất là khi thí sinh phải theo dõi thêm các quy định về môn chính, hệ số và điểm ưu tiên.

Để thực hiện quy định này, các cơ sở đào tạo đang sử dụng nhiều thang điểm sẽ phải rà soát và quy đổi các tổ hợp xét tuyển về một thang điểm thống nhất. Về kỹ thuật, việc quy đổi không quá phức tạp nếu chỉ là sự khác nhau về thang điểm. Tuy nhiên, nếu thang điểm 40 được sử dụng nhằm tăng trọng số của một môn học có ý nghĩa đặc biệt đối với ngành đào tạo, việc chuyển sang thang điểm chung cần được thiết kế thận trọng để phản ánh đúng yêu cầu đầu vào của ngành.

Do đó, Bộ Giáo dục và Đào tạo nên có nguyên tắc hoặc hướng dẫn chung về quy đổi thang điểm, cách làm tròn, tính điểm ưu tiên và xử lý môn nhân hệ số. Trên cơ sở đó, từng cơ sở đào tạo công bố sớm, rõ ràng công thức tính điểm và các tiêu chí liên quan để thí sinh dễ tiếp cận, đồng thời bảo đảm tính công bằng, nhất quán trong xét tuyển.

Trần Trang