Ngày 17 tháng 8 năm 2026, Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Thông tư 67/2026/TT-BGDĐT hướng dẫn Luật Thi đua khen thưởng đối với ngành Giáo dục.
Thông tư 67/2026/TT-BGDĐT hướng dẫn Luật Thi đua khen thưởng đối với ngành Giáo dục có hiệu lực từ 01/10/2026 và thay thế Thông tư 07/2026/TT-BGDĐT của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Thi đua, khen thưởng và Nghị định 152/2025/NĐ-CP của Chính phủ quy định về phân cấp, phân quyền trong lĩnh vực thi đua, khen thưởng; quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi đua, khen thưởng đối với ngành Giáo dục.
Tiêu chuẩn tặng bằng khen của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo dành cho cá nhân và tập thể
Đối với cá nhân: tại khoản 1 Điều 12 quy định Bằng khen của Bộ Giáo dục và Đào tạo được xét tặng hoặc truy tặng cho cá nhân gương mẫu chấp hành tốt chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và đạt một trong các tiêu chuẩn sau:
Có thành tích xuất sắc được bình xét hằng năm hoặc sơ kết, tổng kết các phong trào thi đua do Bộ Giáo dục và Đào tạo phát động. Được cấp có thẩm quyền đánh giá hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ một trong các năm đạt thành tích đề nghị khen thưởng khi sơ kết hoặc hai trong các năm đạt thành tích đề nghị khen thưởng khi tổng kết. Trường hợp bình xét hằng năm, được cấp có thẩm quyền đánh giá hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trong năm đạt thành tích đề nghị khen thưởng hoặc năm liền trước trong trường hợp năm đạt thành tích đề nghị khen thưởng chưa được cấp có thẩm quyền đánh giá;
Lập được nhiều thành tích hoặc thành tích đột xuất, có phạm vi ảnh hưởng ở một trong các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý của Bộ Giáo dục và Đào tạo; hoặc có thành tích xuất sắc theo điều lệ, quy chế của các kỳ thi, hội thi, cuộc thi, hội thao do Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trì tổ chức. Được cấp có thẩm quyền đánh giá hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trong năm đạt thành tích đề nghị khen thưởng hoặc năm liền trước trong trường hợp năm đạt thành tích đề nghị khen thưởng chưa được cấp có thẩm quyền đánh giá. Không xem xét điều kiện về kết quả xếp loại chất lượng hoàn thành nhiệm vụ trong trường hợp cá nhân xét tặng là người học hoặc khen thưởng thành tích đột xuất hoặc khen thưởng thành tích đặc biệt xuất sắc đột xuất;
Có đóng góp hiệu quả cho ngành Giáo dục trong sự phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại; ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số; công tác xã hội, từ thiện nhân đạo. Được cấp có thẩm quyền đánh giá hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trong năm đạt thành tích đề nghị khen thưởng hoặc năm liền trước trong trường hợp năm đạt thành tích đề nghị khen thưởng chưa được cấp có thẩm quyền đánh giá. Đóng góp nêu trên được cơ quan, đơn vị thụ hưởng xác nhận và đề nghị khen thưởng;
Cá nhân công tác tại các đơn vị thuộc Bộ, đơn vị trực thuộc Bộ có 02 lần liên tục trở lên đến thời điểm đề nghị được tặng danh hiệu “Chiến sĩ thi đua cơ sở” hoặc có 02 năm liên tục trở lên đến thời điểm đề nghị được công nhận hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ;
Người lao động lập được nhiều thành tích trong lao động, sản xuất, có phạm vi ảnh hưởng trong lĩnh vực do Bộ Giáo dục và Đào tạo thực hiện quản lý nhà nước theo quy định của pháp luật. Thành tích nêu trên được cơ quan, đơn vị thụ hưởng xác nhận và đề nghị khen thưởng.
So với Thông tư 07/2026/TT-BGDĐT, Thông tư 67/2026/TT-BGDĐT đã điều chỉnh theo hướng tinh gọn hơn một số tiêu chuẩn xét tặng Bằng khen của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo. Một trong những thay đổi đáng chú ý là quy định đối với cá nhân công tác tại các đơn vị thuộc Bộ, đơn vị trực thuộc Bộ. Theo quy định mới, cá nhân có hai lần liên tục được tặng danh hiệu “Chiến sĩ thi đua cơ sở” hoặc có hai năm liên tục được công nhận hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ đến thời điểm đề nghị có thể đáp ứng tiêu chuẩn tương ứng. Quy định mới không còn đặt thêm yêu cầu phải có hai sáng kiến hoặc hai đề tài, dự án, công trình khoa học được nghiệm thu, áp dụng hiệu quả ở cấp cơ sở như quy định trước đây.
Một thay đổi đáng chú ý khác là Thông tư 67/2026/TT-BGDĐT không còn quy định riêng tiêu chuẩn xét tặng Bằng khen dựa trên thời gian công tác từ 5 năm đến 8 năm như Thông tư 07/2026/TT-BGDĐT. Quy định trước đây đặt ra những điều kiện tương đối cụ thể về thời gian công tác, chức vụ quản lý, kết quả đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ và thành tích trong quá trình công tác. Việc không tiếp tục duy trì tiêu chuẩn này cho thấy quy định mới tập trung nhiều hơn vào thành tích và kết quả công tác thực tế thay vì tạo một tiêu chuẩn riêng dựa trên thời gian công tác của cá nhân.
Bên cạnh đó, cách xác định thành tích đóng góp cho ngành Giáo dục cũng được điều chỉnh. Thông tư 07/2026/TT-BGDĐT sử dụng yêu cầu về “nhiều đóng góp đặc biệt xuất sắc” cho sự nghiệp phát triển giáo dục và đào tạo, trong khi Thông tư 67/2026/TT-BGDĐT quy định theo hướng cá nhân có đóng góp hiệu quả cho ngành Giáo dục trên nhiều lĩnh vực như phát triển kinh tế - xã hội, khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, công tác xã hội và hoạt động nhân đạo. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng những thay đổi này không đồng nghĩa với việc mọi cá nhân có hai năm hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ đều đương nhiên được tặng Bằng khen của Bộ trưởng. Việc áp dụng tiêu chuẩn nào còn phụ thuộc vào đối tượng, đơn vị công tác, loại thành tích và các điều kiện cụ thể được quy định trong Thông tư 67/2026/TT-BGDĐT.
Đối với tập thể quy định tại khoản 2 Điều 12 như sau: Bằng khen của Bộ Giáo dục và Đào tạo tặng cho tập thể gương mẫu chấp hành tốt chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nội bộ đoàn kết và đạt một trong các tiêu chuẩn sau:
Đạt tiêu chuẩn như quy định tại điểm a khoản 1 Điều này. Được cấp có thẩm quyền đánh giá hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ một trong các năm đạt thành tích đề nghị khen thưởng khi sơ kết hoặc hai trong các năm đạt thành tích đề nghị khen thưởng khi tổng kết. Trường hợp bình xét hằng năm, được cấp có thẩm quyền đánh giá hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trong năm đạt thành tích đề nghị khen thưởng hoặc năm liền trước trong trường hợp năm đạt thành tích đề nghị khen thưởng chưa được cấp có thẩm quyền đánh giá;
Lập được thành tích xuất sắc đột xuất, có phạm vi ảnh hưởng trong lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý của Bộ Giáo dục và Đào tạo; hoặc có thành tích xuất sắc theo điều lệ, quy chế của các kỳ thi, hội thi, cuộc thi, hội thao do Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trì tổ chức. Được cấp có thẩm quyền đánh giá hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trong năm đạt thành tích đề nghị khen thưởng hoặc năm liền trước trong trường hợp năm đạt thành tích đề nghị khen thưởng chưa được cấp có thẩm quyền đánh giá. Không xem xét điều kiện về kết quả xếp loại chất lượng hoàn thành nhiệm vụ trong trường hợp tập thể xét tặng là tập thể người học hoặc khen thưởng thành tích đột xuất hoặc khen thưởng thành tích đặc biệt xuất sắc đột xuất;
Có đóng góp hiệu quả cho ngành Giáo dục trong sự phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại; ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số; công tác xã hội, từ thiện nhân đạo. Được cấp có thẩm quyền đánh giá hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trong năm đạt thành tích đề nghị khen thưởng hoặc năm liền trước trong trường hợp năm đạt thành tích đề nghị khen thưởng chưa được cấp có thẩm quyền đánh giá. Đóng góp nêu trên được cơ quan, đơn vị thụ hưởng xác nhận và đề nghị khen thưởng;
So với Thông tư 07/2026/TT-BGDĐT, điểm đáng chú ý của quy định mới là tiêu chuẩn đối với tập thể được thiết kế gắn rõ hơn với từng hình thức xét khen thưởng: sơ kết, tổng kết hoặc bình xét hằng năm, đồng thời xác định cụ thể hơn yêu cầu về kết quả đánh giá hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Đặc biệt, đối với những tập thể có đóng góp cho ngành Giáo dục, Thông tư 67/2026/TT-BGDĐT yêu cầu đóng góp phải được cơ quan, đơn vị thụ hưởng xác nhận và đề nghị khen thưởng, qua đó tạo căn cứ rõ hơn khi xác định giá trị và phạm vi của thành tích. Như vậy, quy định mới không chỉ xem xét việc tập thể có thành tích mà còn chú trọng hơn đến phạm vi ảnh hưởng, hiệu quả thực tế và sự xác nhận của đơn vị thụ hưởng, đồng thời có những trường hợp được loại trừ điều kiện đánh giá hoàn thành nhiệm vụ để phù hợp với tính chất đặc thù của thành tích được khen thưởng.
Tiêu chuẩn, điều kiện để được tặng Kỷ niệm chương “Vì sự nghiệp giáo dục”
Tại Điều 11. Kỷ niệm chương “Vì sự nghiệp giáo dục”
Kỷ niệm chương “Vì sự nghiệp giáo dục” (sau đây gọi là Kỷ niệm chương) là hình thức khen thưởng của Bộ Giáo dục và Đào tạo để tặng một lần cho cá nhân trong và ngoài ngành Giáo dục gương mẫu chấp hành tốt chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước có nhiều đóng góp cho sự nghiệp giáo dục và đào tạo, bao gồm:
Cá nhân đang công tác trong ngành Giáo dục từ 20 năm trở lên
Trường hợp cá nhân đang công tác trong ngành Giáo dục được cơ quan có thẩm quyền cử đi học hoặc thực hiện nghĩa vụ quân sự, sau đó tiếp tục công tác trong ngành Giáo dục thì thời gian đi học hoặc thực hiện nghĩa vụ quân sự được tính là thời gian công tác trong ngành Giáo dục để xét tặng Kỷ niệm chương. Thời gian thi hành quyết định kỷ luật không được tính vào thời gian công tác để xét tặng Kỷ niệm chương.
Thời gian cá nhân công tác trong ngành Giáo dục ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn theo quy định của Thủ tướng Chính phủ được nhân hệ số 2 khi tính thời gian công tác để xét Kỷ niệm chương.
Cá nhân ngoài ngành Giáo dục đạt một trong các tiêu chuẩn sau:
Cá nhân giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý từ 05 năm trở lên hoặc cá nhân được giao phụ trách công tác giáo dục và đào tạo tại cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, có thời gian công tác trong ngành Giáo dục từ 05 năm trở lên và có nhiều đóng góp trong việc lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện nhiệm vụ, góp phần vào sự phát triển của ngành Giáo dục;
Cá nhân có nhiều đóng góp trong việc tham gia xây dựng, hoàn thiện cơ chế, chính sách; tổ chức hoạt động thiết thực, hiệu quả cho sự phát triển của ngành Giáo dục hoặc hỗ trợ tài chính, hiện vật hoặc nguồn lực khác cho sự phát triển ngành Giáo dục, được cơ quan, đơn vị thụ hưởng xác nhận và đề nghị;
Cá nhân người Việt Nam định cư ở nước ngoài, người Việt Nam làm việc cho tổ chức nước ngoài tại Việt Nam và người nước ngoài có đóng góp tích cực vào việc xây dựng, phát triển sự nghiệp giáo dục và đào tạo của Việt Nam hoặc tăng cường quan hệ hữu nghị, hợp tác quốc tế về giáo dục.
So với Thông tư 07/2026/TT-BGDĐT, Thông tư 67/2026/TT-BGDĐT không thay đổi điều kiện nền tảng đối với cá nhân đang công tác trong ngành Giáo dục: 20 năm công tác vẫn là mốc quan trọng để xem xét tặng Kỷ niệm chương “Vì sự nghiệp giáo dục”. Cách tính thời gian công tác trong một số trường hợp đặc thù, trong đó có thời gian được cử đi học, thực hiện nghĩa vụ quân sự và thời gian công tác tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, tiếp tục được quy định cụ thể.
Điểm mới đáng chú ý chủ yếu nằm ở việc cập nhật nhóm đối tượng ngoài ngành Giáo dục tại cấp xã. Thông tư 07 sử dụng cách xác định “phòng văn hóa - xã hội thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã”, trong khi Thông tư 67 quy định theo hướng cá nhân được giao phụ trách công tác giáo dục và đào tạo tại cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã. Đồng thời, quy định mới diễn đạt rõ hơn yêu cầu về đóng góp của cá nhân đối với sự phát triển giáo dục. Như vậy, đối với đội ngũ nhà giáo đang công tác trong các cơ sở giáo dục, mốc 20 năm và nguyên tắc tính thời gian công tác cơ bản không thay đổi, còn những điều chỉnh đáng chú ý tập trung nhiều hơn vào nhóm đối tượng ngoài ngành và cơ cấu tổ chức quản lý giáo dục ở cấp xã.
Đọc toàn văn Thông tư 67/2026/TT-BGDĐT TẠI ĐÂY
(*) Văn phong, nội dung bài viết thể hiện góc nhìn, quan điểm của tác giả.