Bộ Giáo dục và Đào tạo đã đưa nhiệm vụ rà soát đồng bộ chương trình và sách giáo khoa vào nhiệm vụ trọng tâm của năm học tới. Những nội dung còn bất cập đã được Bộ kịp thời điều chỉnh trong những năm qua; tuy nhiên, lần này sẽ thực hiện theo hướng đồng bộ, toàn diện và sâu hơn. Bên cạnh đó, những nội dung, thời lượng môn học không còn phù hợp hoặc chưa thiết thực cũng sẽ được Bộ xem xét, điều chỉnh.
Theo lãnh đạo và giáo viên một số trường học cấp trung học cơ sở, sau 5 năm triển khai Chương trình Giáo dục phổ thông 2018, một số chương trình giáo dục tích hợp vẫn còn bất cập liên quan đến nội dung kiến thức, bố trí đội ngũ giáo viên cũng như tổ chức sinh hoạt chuyên môn cần được điều chỉnh.
Khó khăn trong việc phân công đội ngũ giảng dạy, sinh hoạt chuyên môn
Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, thầy Nguyễn Ánh - Hiệu trưởng Trường Trung học cơ sở Chu Văn An (xã Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh) cho rằng, sau 5 năm triển khai Chương trình Giáo dục phổ thông 2018, việc tổ chức dạy học các môn tích hợp như Khoa học tự nhiên hay Lịch sử và Địa lý vẫn còn một số bất cập, trong đó vấn đề nổi bật nhất là cách bố trí đội ngũ giáo viên.
Theo thầy Ánh, với môn Lịch sử và Địa lý, dù đã được tích hợp thành một môn học nhưng trên thực tế hai mạch kiến thức vẫn tương đối tách biệt. Trong khi đó, môn Khoa học tự nhiên được hình thành trên cơ sở tích hợp ba lĩnh vực Vật lý, Hóa học và Sinh học, đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc tổ chức giảng dạy và bố trí giáo viên.
Hiện nay, nhiều trường đại học sư phạm đã tuyển sinh và đào tạo ngành Sư phạm Khoa học tự nhiên hay Sư phạm Lịch sử - Địa lý nhưng chưa có khóa tốt nghiệp. Vì vậy, trường phổ thông hiện chủ yếu phải sử dụng đội ngũ giáo viên được đào tạo theo từng chuyên ngành riêng biệt để đảm nhiệm các phân môn trong môn tích hợp.
Chẳng hạn, giáo viên được đào tạo Vật lý sẽ phụ trách phần Vật lý, giáo viên Hóa học phụ trách phần Hóa học và giáo viên Sinh học đảm nhiệm phần Sinh học. Theo thầy, cách bố trí này khiến việc triển khai trên thực tế chưa thay đổi quá nhiều so với khi các môn học còn được tổ chức riêng biệt.
Bất cập này không chỉ liên quan đến việc phân công giảng dạy mà còn tác động đến tổ chức sinh hoạt chuyên môn và xây dựng thời khóa biểu. Điều này đặt ra khó khăn trong việc bố trí tổ chuyên môn, sinh hoạt chuyên môn và trao đổi về nội dung giảng dạy, bởi giáo viên có thể phải tham gia các hoạt động chuyên môn ở những nhóm khác nhau.
“Khi một môn học được xây dựng theo hướng tích hợp nhưng lại do nhiều giáo viên thuộc các chuyên ngành khác nhau đảm nhiệm, sự thống nhất trong quá trình giảng dạy có thể khó đạt được như trường hợp một giáo viên phụ trách xuyên suốt một môn học.
Nếu một giáo viên đảm nhiệm trọn vẹn một môn, đương nhiên nội dung, phương pháp và cách tổ chức dạy học sẽ thống nhất; ngược lại, khi một môn có ba giáo viên phụ trách ba phân môn thì việc phối hợp và thống nhất cần nhiều thời gian hơn rất nhiều.
Tại Trường Trung học cơ sở Chu Văn An, nhà trường hiện cơ bản vẫn tổ chức dạy học ổn định với đội ngũ giáo viên hiện có. Khó khăn chủ yếu nằm ở quá trình tổ chức sinh hoạt và trao đổi chuyên môn.
Đồng quan điểm, thầy Quách Văn Sinh - giáo viên môn Khoa học tự nhiên, Trường Phổ thông dân tộc nội trú Tiểu học và Trung học cơ sở Pa Tần (xã Pa Tần, tỉnh Lai Châu) khẳng định, bất cập lớn nhất của môn Khoa học tự nhiên hiện nay là chương trình đã được thiết kế theo hướng tích hợp, nhưng đội ngũ giáo viên, cách thức tổ chức dạy học và kiểm tra, đánh giá chưa thực sự được tích hợp tương ứng.
Theo thầy Sinh, về bản chất, Khoa học tự nhiên là một môn học thống nhất, được xây dựng trên nền tảng của ba lĩnh vực Vật lý, Hóa học và Sinh học. Tuy nhiên, trong thực tế giảng dạy, nội dung vẫn được phân chia khá rõ theo từng lĩnh vực.
Trong khi đó, đa số giáo viên được đào tạo chuyên sâu ở một chuyên ngành nhất định, nên khi chuyển sang giảng dạy môn Khoa học tự nhiên phải mở rộng kiến thức sang những lĩnh vực mà bản thân chưa được đào tạo chuyên sâu.
Một vấn đề khác được nam giáo viên chỉ ra là khối lượng kiến thức của môn học tương đối lớn so với thời lượng được bố trí. Nếu chỉ tập trung truyền đạt kiến thức lý thuyết, giáo viên có thể bảo đảm tiến độ chương trình. Tuy nhiên, để thực hiện đúng tinh thần của chương trình, việc dạy học cần có thêm các hoạt động thí nghiệm, thực hành, quan sát, điều tra và vận dụng kiến thức vào thực tiễn. Điều này tạo áp lực không nhỏ đối với giáo viên trong việc vừa bảo đảm tiến độ chương trình, vừa đáp ứng yêu cầu phát triển phẩm chất, năng lực học sinh.
Đối với học sinh, việc tiếp cận một môn học bao gồm ba lĩnh vực khoa học cũng đòi hỏi khả năng liên kết và vận dụng kiến thức ở mức độ cao hơn.
Đề xuất giảm nội dung kiến thức hàn lâm, ghi nhớ máy móc và tiếp tục bồi dưỡng giáo viên
Từ thực tiễn giảng dạy, thầy Quách Văn Sinh cho biết, công tác kiểm tra, đánh giá môn Khoa học tự nhiên thời gian qua đã có những chuyển biến tích cực. Dù vậy, trong thực tế vẫn còn tình trạng đánh giá theo từng mảng Vật lý, Hóa học, Sinh học nhiều hơn là đánh giá năng lực khoa học tự nhiên một cách tổng thể.
Chẳng hạn, một đề kiểm tra có thể được chia thành các phần Vật lý, Hóa học và Sinh học rồi tính điểm tổng hợp. Cách làm này thuận lợi cho việc tổ chức, nhưng chưa thể hiện đầy đủ tinh thần tích hợp của môn học.
Thầy Sinh cho rằng, cần tăng cường những câu hỏi và nhiệm vụ học tập yêu cầu học sinh vận dụng kiến thức của nhiều lĩnh vực để giải quyết một vấn đề, giải thích hiện tượng thực tiễn, xử lý số liệu hoặc thực hiện nhiệm vụ thực hành. Đồng thời, cần có hướng dẫn thống nhất hơn về ma trận, cấu trúc đề và cách đánh giá để giáo viên có cơ sở thực hiện đồng bộ, hạn chế tình trạng mỗi trường vận dụng theo một cách khác nhau.
“Theo tôi, cần ưu tiên xem xét khối lượng kiến thức, mức độ chi tiết của một số nội dung và sự phù hợp giữa yêu cầu cần đạt với thời lượng thực tế. Một số nội dung tương đối nặng nếu yêu cầu học sinh vừa nắm kiến thức, vừa thực hành, vừa vận dụng. Có những kiến thức có thể giảm mức độ chi tiết nhưng vẫn bảo đảm bản chất khoa học và yêu cầu cần đạt.
Cụ thể, cần ưu tiên tinh giản những nội dung mang tính hàn lâm, khó vận dụng ở cấp trung học cơ sở; rà soát các nội dung trùng lặp giữa các lớp và giữa các mạch kiến thức; đồng thời tăng thời lượng và điều kiện cho thí nghiệm, thực hành, quan sát và vận dụng.
Song song với đó, cần thiết kế những chủ đề có sự kết nối thực chất giữa Vật lý, Hóa học và Sinh học; giảm yêu cầu ghi nhớ máy móc, tăng yêu cầu giải thích hiện tượng và giải quyết các vấn đề thực tiễn”, giáo viên môn Khoa học tự nhiên, Trường Phổ thông dân tộc nội trú Tiểu học và Trung học cơ sở Pa Tần đề xuất.
Cũng theo thầy Sinh, trước khi tiếp tục điều chỉnh chương trình và sách giáo khoa môn Khoa học tự nhiên, cần ưu tiên giải quyết bài toán về đội ngũ giáo viên. Theo đó, cần xác định rõ giáo viên Khoa học tự nhiên ở cấp trung học cơ sở phải đáp ứng những năng lực chuyên môn nào đối với từng lĩnh vực, từ đó xây dựng lộ trình đào tạo, bồi dưỡng phù hợp.
Đồng thời, việc phân công giảng dạy cũng cần căn cứ vào chuyên môn, năng lực của giáo viên và điều kiện thực tế của từng nhà trường, thay vì chỉ dựa trên yêu cầu chung của chương trình.
Sau khi có giải pháp phù hợp về đội ngũ, cần tiến hành rà soát đồng bộ các yếu tố liên quan đến việc triển khai môn học, từ chương trình, sách giáo khoa, thời lượng dạy học đến thiết bị thí nghiệm và phương thức kiểm tra, đánh giá. Bởi nếu chỉ thay đổi hoặc tinh giản nội dung trong sách giáo khoa mà chưa giải quyết được những bất cập về đội ngũ giáo viên thì các khó khăn trong quá trình tổ chức dạy học Khoa học tự nhiên vẫn có thể tiếp tục tồn tại.
“Mục tiêu quan trọng nhất là Khoa học tự nhiên phải thực sự trở thành một môn học tích hợp trong cách tổ chức dạy học, phát triển năng lực và kiểm tra, đánh giá, chứ không chỉ tích hợp về tên gọi và cấu trúc chương trình”, nam giáo viên nhấn mạnh.
Trong khi đó, giáo viên môn Lịch sử và Địa lý tại một trường trung học cơ sở ở Tuyên Quang cho rằng, trước hết, chương trình sách giáo khoa cần giảm bớt những nội dung quá chi tiết, đặc biệt là các yêu cầu khiến học sinh phải ghi nhớ một lượng kiến thức lớn nhưng chưa tạo nhiều cơ hội để các em hiểu và vận dụng.
Theo giáo viên này, với phân môn Lịch sử, học sinh hiện phải nhớ khá nhiều mốc thời gian, sự kiện, nhân vật, địa danh và diễn biến. Nếu yêu cầu ghi nhớ quá nhiều, các em dễ rơi vào tình trạng học thuộc lòng, trong khi chưa chắc đã hiểu được bản chất và ý nghĩa của sự kiện lịch sử. Vì vậy, nên tinh giản những chi tiết không thực sự cần thiết, đồng thời dành thêm thời lượng để học sinh tìm hiểu vì sao sự kiện xảy ra, nguyên nhân, kết quả và ý nghĩa của sự kiện.
Đối với phân môn Địa lý, cần giảm yêu cầu ghi nhớ máy móc các số liệu, thay vào đó tăng cường những hoạt động giúp học sinh đọc và khai thác bản đồ, phân tích biểu đồ, bảng số liệu cũng như giải thích các hiện tượng diễn ra trong thực tế. Cách tiếp cận này sẽ giúp học sinh không chỉ nhớ kiến thức mà còn biết sử dụng kiến thức để phân tích và giải quyết vấn đề.
“Từ thực tế giảng dạy, tôi đề xuất chương trình môn Lịch sử và Địa lý cần thay đổi theo hướng giảm những nội dung quá chi tiết và yêu cầu học thuộc lòng máy móc; đồng thời tăng cường sử dụng bản đồ, tranh ảnh, tư liệu, biểu đồ và số liệu trong quá trình dạy học.
Ngoài ra, nội dung chương trình nên có thêm những vấn đề gắn với địa phương và đời sống của học sinh, tạo điều kiện để các em liên hệ kiến thức với thực tế. Việc tăng cường sự kết nối giữa kiến thức Lịch sử và Địa lý cũng rất cần thiết, qua đó giúp học sinh có cái nhìn toàn diện hơn về các vấn đề. Đặc biệt, chương trình cần dành nhiều thời gian hơn để học sinh suy nghĩ, phân tích, trao đổi và vận dụng kiến thức, thay vì chủ yếu tập trung vào việc ghi nhớ”, vị giáo viên bày tỏ.