Dự báo sách giáo khoa là bài toán quản trị cung cầu chứ không đơn thuần ở vấn đề giao cho ai in

27/09/2026 06:45
Thi Thi - Khánh Hòa

GDVN - Chuyên gia cho rằng, dự báo sách giáo khoa cần được xem là một bài toán quản trị cung - cầu, chứ không chỉ đơn thuần là giao cho ai in.

Sáng 20/9, tại phiên giải trình do Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội tổ chức, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Hoàng Minh Sơn đã giải trình về tình trạng thiếu sách giáo khoa cục bộ trong năm nay, đồng thời Bộ trưởng cũng thẳng thắn thừa nhận trách nhiệm.

Bộ trưởng cho biết, từ tháng 12/2025, sau khi phê duyệt lựa chọn một bộ sách giáo khoa, Bộ đã chỉ đạo Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam và địa phương thống kê, dự báo nhu cầu, lập kế hoạch sản xuất, cung ứng.

Tuy nhiên, năm học này có một số đặc thù. Một số địa phương thực hiện chủ trương miễn phí sách giáo khoa, do đó phụ huynh có tâm lý chờ đợi chính sách nên chưa mua sách. Các trường học cũng chưa đặt sách đầy đủ, dẫn đến Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam không có đầy đủ dữ liệu để lập kế hoạch sản xuất, cung ứng.

"Chúng tôi cũng nhận định việc lập kế hoạch năm nay chưa có tính dự báo chính xác cho từng địa phương, từng môn học", Bộ trưởng nói.

Bộ trưởng cho biết, Bộ sẽ nghiêm túc rút kinh nghiệm, đồng thời giám sát kỹ và chặt chẽ hơn việc lập kế hoạch, dự báo số lượng sách giáo khoa, "không để xảy ra tình trạng tương tự sang năm”.

Dự báo sách giáo khoa không chỉ tính đủ, mà phải biết nhu cầu ở đâu

Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, ông Ngô Thành Huấn - thạc sĩ Hoạch định Tài chính cá nhân tại Đại học Griffith (Úc), thành viên Hội đồng Chuyên gia tại Hiệp hội Tư vấn Tài chính Việt Nam, hiện là Tổng Giám đốc Công ty cổ phần Tư vấn đầu tư và Quản lý tài sản FIDT cho rằng, với một sản phẩm thiết yếu như sách giáo khoa, điều quan trọng không chỉ là dự báo cần bao nhiêu mà còn phải xác định nhu cầu nằm ở đâu và xuất hiện vào thời điểm nào, bởi đây là sản phẩm có "tính mùa vụ" cao.

Vì vậy, dự báo sách giáo khoa cần được xem là một bài toán quản trị cung - cầu, thay vì chỉ đơn thuần là kế hoạch in ấn. Theo ông, các tài liệu của UNESCO hay World Bank cũng nhấn mạnh việc dự báo số lượng học liệu cần gắn với quy mô học sinh dự kiến và theo dõi tồn kho ở cấp trường.

z7815796314598-f8870ca905db1ea2f01513b74f27d13c.jpg
Ông Ngô Thành Huấn - thạc sĩ Hoạch định Tài chính cá nhân tại Đại học Griffith (Úc), thành viên Hội đồng Chuyên gia tại Hiệp hội Tư vấn Tài chính Việt Nam, hiện là Tổng Giám đốc Công ty cổ phần Tư vấn đầu tư và Quản lý tài sản FIDT. Ảnh: NVCC.

Về dữ liệu đầu vào, ông Huấn cho rằng cần có ít nhất ba lớp dữ liệu. Thứ nhất là nhóm dữ liệu nền tương đối chắc chắn, gồm số học sinh theo khối lớp, số trường, tuyển sinh dự kiến, biến động dân số học đường và danh mục sách được lựa chọn.

Thứ hai là dữ liệu thị trường, bao gồm lượng tiêu thụ thực tế qua các năm, tồn kho, tỷ lệ sách tái sử dụng, đơn đặt hàng từ trường học và hệ thống phân phối, cũng như sự khác biệt về nhu cầu giữa các địa phương. Thứ ba là những yếu tố có thể làm nhu cầu thay đổi, như điều chỉnh chương trình, thay đổi đầu sách, dịch chuyển học sinh, hành vi mua của phụ huynh và các thay đổi chính sách liên quan.

Về phương pháp, chuyên gia cho rằng không nên phụ thuộc vào một con số dự báo duy nhất. Có thể kết hợp các mô hình định lượng dựa trên dữ liệu lịch sử với dự báo từ dưới lên của trường học, địa phương và nhà phân phối, sau đó xây dựng các kịch bản như nhu cầu cơ sở, nhu cầu cao và nhu cầu thấp. Dự báo cũng cần được cập nhật liên tục khi có dữ liệu mới, thay vì "chốt" một lần từ nhiều tháng trước rồi giữ nguyên kế hoạch sản xuất.

Đối với đặc thù sách giáo khoa phải hoàn thành kế hoạch sản xuất trước nhiều tháng, trong khi nhu cầu thực tế vẫn có thể biến động, ông Huấn cho rằng kế hoạch sản xuất cũng không nên được xây dựng trên một con số dự báo duy nhất. Theo đó, nên xác lập một kịch bản nhu cầu cơ sở, đi kèm một biên dự phòng và cơ chế cập nhật khi dữ liệu thực tế thay đổi.

Tuy nhiên, theo ông, dự phòng không nhất thiết đồng nghĩa với việc in dư thật nhiều. Điều quan trọng hơn là dự phòng về năng lực đáp ứng, khả năng bổ sung sản lượng, điều chuyển hàng giữa các khu vực và cập nhật kế hoạch đủ nhanh khi xuất hiện chênh lệch cung - cầu.

"Dự báo giúp chúng ta có một kế hoạch tốt, còn khả năng điều chỉnh mới giúp kế hoạch đó đi được với thực tế", ông Huấn nhấn mạnh.

Từ câu chuyện thiếu sách giáo khoa, chuyên gia cho rằng bài học đáng chú ý là với một sản phẩm thiết yếu và có tính mùa vụ, kế hoạch không nên dừng ở việc giao một con số rồi mỗi bên thực hiện phần việc của mình. Quan trọng hơn là phải có một cơ chế để dữ liệu được cập nhật, trách nhiệm được xác định và các bên có thể phản ứng đủ nhanh khi thực tế thay đổi.

Theo đó, trách nhiệm cần được phân định tương đối rõ. Cơ quan quản lý thiết lập nguyên tắc, thời hạn và cơ chế giám sát; địa phương và nhà trường chịu trách nhiệm cập nhật sát nhu cầu thực tế; còn nhà xuất bản chịu trách nhiệm xây dựng năng lực cung ứng, dự phòng và điều phối phù hợp với dữ liệu.

Tuy nhiên, điều quan trọng nhất là ba khâu này phải được kết nối với nhau. Nếu số liệu thay đổi nhưng không được cập nhật kịp thời, hoặc đã nhìn thấy chênh lệch nhưng không có cơ chế điều chỉnh, một kế hoạch ban đầu dù tốt vẫn có thể thất bại.

"Theo tôi, quản trị rủi ro không phải cố gắng để kế hoạch không bao giờ sai, mà là nhận ra sai lệch đủ sớm và có sẵn phương án để xử lý trước khi nó trở thành vấn đề lớn", ông Huấn nêu quan điểm.

Cần chủ động về dữ liệu và năng lực in để hạn chế thiếu sách giáo khoa

Cùng trao đổi, Tiến sĩ Phan Phương Nam - Phó Trưởng khoa, Khoa Luật Thương mại, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh cho rằng, cần chủ động về dữ liệu và năng lực in để hạn chế thiếu sách giáo khoa. Việc xây dựng kế hoạch in sách giáo khoa cần dựa trên dữ liệu học sinh, năng lực sản xuất và thời gian để hoàn thành đơn hàng. Nếu nhu cầu về sách, năng lực sản xuất cũng như tiến độ in được tính toán từ sớm nguy cơ thiếu sách giáo khoa có thể được hạn chế, đồng thời vẫn kiểm soát được lượng sách tồn kho.

Phần lớn dữ liệu về số lượng học sinh đã có sẵn và có thể kế thừa từ năm học trước. Chẳng hạn, đa số học sinh lớp 1 sẽ tiếp tục lên lớp 2, học sinh lớp 10 sẽ tiếp tục lên lớp 11. Vì vậy, với các khối lớp này cơ quan quản lý không nhất thiết phải thu thập lại dữ liệu từ đầu mà có thể sử dụng số liệu hiện có để xây dựng kế hoạch.

Khó khăn chủ yếu nằm ở nhóm học sinh chuyển từ mầm non lên lớp 1, bởi đây là nhóm mới gia nhập hệ thống giáo dục phổ thông. Để dự báo sát nhu cầu của nhóm này, cần bổ sung dữ liệu từ các cơ sở giáo dục mầm non, từ đó hoàn thiện cơ sở dữ liệu phục vụ việc xây dựng kế hoạch cung ứng sách giáo khoa.

a2.jpg
Tiến sĩ Phan Phương Nam - Phó Trưởng khoa, Khoa Luật Thương mại, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh. Ảnh: NVCC.

"Trên cơ sở dữ liệu học sinh, cơ quan quản lý và đơn vị xuất bản có thể chủ động xây dựng kế hoạch sản xuất theo từng năm. Việc quan trọng là phải xác định được nhu cầu sách dự kiến và đối chiếu với năng lực sản xuất thực tế.

Ví dụ, nếu nhu cầu một năm khoảng 45 triệu bản cần xác định nhà máy in hoặc hệ thống in của nhà xuất bản có khả năng sản xuất bao nhiêu bản trong một khoảng thời gian nhất định. Nếu cần 3 tháng để hoàn thành việc in, kế hoạch phải được chốt trước đó ít nhất 3 tháng. Nếu cần 6 tháng, dữ liệu phải được thu thập và kế hoạch phải được xác lập sớm hơn.

Việc này càng có cơ sở khi danh mục sách giáo khoa đã được xác định tương đối ổn định. Số lượng đầu sách ở từng cấp học, các loại sách như sách giáo khoa, sách bài tập ... đều có thể được xác định trước. Từ đó, đơn vị sản xuất tính toán năng lực in và thời gian cần thiết để hoàn thành số lượng sách dự kiến", Tiến sĩ Phan Phương Nam nhấn mạnh.

Theo Tiến sĩ Phan Phương Nam, khi đã có dữ liệu học sinh từ khoảng 3-6 tháng trước thời điểm năm học mới, có thể dự báo tương đối sát số lượng học sinh tiếp tục học ở từng khối lớp. Dù trong kỳ nghỉ hè có thể có một tỷ lệ học sinh chuyển trường hoặc thay đổi nơi học, mức biến động này thường không quá lớn. Do đó, đơn vị xuất bản có thể in một lượng dự phòng nhất định để bảo đảm an toàn nguồn cung. Nếu còn dư, số sách này có thể tiếp tục được sử dụng trong năm học sau. Khi xây dựng kế hoạch sản xuất cho năm tiếp theo, lượng sách tồn kho có thể được tính vào nguồn cung hiện có để điều chỉnh số lượng cần in mới. Cách tiếp cận này vừa hạn chế nguy cơ thiếu sách giáo khoa vừa tránh tình trạng tồn kho.

Tiến sĩ Phan Phương Nam cũng cho rằng, việc người đứng đầu ngành Giáo dục chủ động nhận trách nhiệm thể hiện tinh thần cầu thị. Trong quá trình vận hành, có thể có những nguyên nhân khách quan, chủ quan nhưng việc người đứng đầu chủ động nhận trách nhiệm là cơ sở để nhìn lại quá trình quản lý, điều hành, rút kinh nghiệm và đưa ra giải pháp phù hợp, qua đó hạn chế khả năng tình trạng tương tự tái diễn.

Tinh thần này cũng phù hợp với yêu cầu chung đối với quản trị hiện đại, trong đó trách nhiệm của người đứng đầu không chỉ nằm ở việc xử lý vấn đề khi đã xảy ra mà còn chủ động nhận diện rủi ro và xây dựng cơ chế phòng ngừa từ trước.

Bài học trong công tác quản lý, dự báo và tổ chức cung ứng

Còn ông Lê Như Tiến - nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng của Quốc hội (nay là Ủy ban Văn hóa và Xã hội) nhìn nhận, câu chuyện thiếu sách giáo khoa năm nay cần được nhìn nhận một cách thẳng thắn và toàn diện, không chỉ dừng ở việc xác định vì sao thiếu sách mà quan trọng hơn là phải rút ra được bài học trong công tác quản lý, dự báo và tổ chức cung ứng.

gdvn-lenhutien.jpg
ông Lê Như Tiến - nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng của Quốc hội (nay là Ủy ban Văn hóa và Xã hội). Ảnh: Thi Thi.

"Sách giáo khoa là một sản phẩm đặc thù, gắn trực tiếp với hoạt động dạy và học của hàng triệu học sinh, vì vậy không thể để việc bảo đảm nguồn sách phụ thuộc quá nhiều vào những xử lý tình thế khi năm học đã cận kề. Muốn chủ động thì ngay từ đầu phải có kế hoạch sát với thực tế và có phương án ứng phó khi nhu cầu thay đổi", ông chia sẻ.

Ngoài ra, theo ông Tiến, việc Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo nhận trách nhiệm trước tình trạng thiếu sách là tinh thần cầu thị và cần thiết của người đứng đầu cơ quan quản lý, giống như khi xảy ra tình trạng đứt gãy cung ứng xăng hay thiếu thuốc ở một số nơi thì Bộ trưởng Công Thương, Bộ trưởng Y tế cũng nhìn nhận trách nhiệm của mình.

Tuy nhiên, trách nhiệm phải được nhìn nhận ở từng khâu trong toàn bộ quá trình. Cơ quan quản lý nhà nước có trách nhiệm trong việc xây dựng cơ chế, tổ chức điều phối và giám sát; địa phương phải cung cấp, cập nhật đầy đủ nhu cầu thực tế; các cơ sở giáo dục cần xác nhận chính xác số lượng học sinh và nhu cầu sử dụng; còn nhà xuất bản, với vai trò trực tiếp tổ chức sản xuất và cung ứng, cũng phải chịu trách nhiệm về việc lập kế hoạch, dự báo và bảo đảm tiến độ cung cấp sách.

"Theo tôi, điều cần tránh là khi có vấn đề thì trách nhiệm bị đẩy từ chủ thể này sang chủ thể khác. Nếu dữ liệu đầu vào chưa chính xác, phải làm rõ vì sao dữ liệu chưa chính xác; nếu khâu dự báo chưa sát, phải xem lại phương pháp dự báo; nếu kế hoạch sản xuất chưa phù hợp với diễn biến thực tế, nhà xuất bản cũng cần rút kinh nghiệm. Chỉ khi phân định được trách nhiệm ở từng mắt xích thì mới có thể khắc phục được nguyên nhân một cách căn cơ.

Từ sự việc năm nay, cần đặc biệt chú trọng đến công tác dự báo nhu cầu. Việc lập kế hoạch sản xuất sách giáo khoa không thể chỉ dựa vào số lượng học sinh của năm học trước, mà phải tính đến những biến động về quy mô trường lớp, chính sách hỗ trợ hoặc cho mượn sách và những yếu tố khác có thể làm thay đổi nhu cầu thực tế. Cùng với đó, cần có một khoảng dự phòng hợp lý để xử lý những biến động không thể dự báo chính xác từ đầu", ông Lê Như Tiến nhấn mạnh.

Xây dựng cơ chế điều chuyển sách giữa các địa bàn theo nhu cầu thực tế

Ông Phạm Vũ Hiệp - Phó Viện trưởng, Viện Nghiên cứu Phát triển Kinh tế thương mại cho rằng, cần xây dựng cơ chế điều chuyển sách giữa các địa bàn theo nhu cầu thực tế, qua đó hạn chế tình trạng nơi thừa, nơi thiếu.

Quan trọng nhất, mỗi trường học cần trở thành một mắt xích quan trọng trong chuỗi cung ứng sách giáo khoa, bởi đây là nơi trực tiếp nắm bắt nhu cầu sử dụng. Khi dữ liệu từ các cấp được kết nối và cập nhật thường xuyên, cơ quan quản lý có thể từng bước hình thành hệ thống thông tin phục vụ điều hành trên phạm vi cả nước, hướng tới mục tiêu bảo đảm sách giáo khoa không chỉ đủ về số lượng mà còn được cung ứng đúng loại sách, đúng nơi và đúng thời điểm.

2c97b7e6-8629-4feb-a99e-39ba81bab17a.jpg
Ông Phạm Vũ Hiệp - Phó Viện trưởng, Viện Nghiên cứu Phát triển Kinh tế thương mại. Ảnh: NVCC.

Theo ông Hiệp, việc Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Hoàng Minh Sơn công khai nhìn nhận những hạn chế trong công tác dự báo, lập kế hoạch và giám sát cung ứng sách giáo khoa là một tín hiệu đáng chú ý trong quản trị nhà nước. Trước vấn đề ảnh hưởng trực tiếp tới học sinh và phụ huynh, người đứng đầu ngành không né tránh thực tế tình trạng thiếu sách giáo khoa cục bộ đã xảy ra.

"Một ngành lớn như giáo dục được vận hành thông qua nhiều cấp, nhiều đơn vị, từ cơ sở giáo dục, Sở Giáo dục và Đào tạo, các đơn vị trực thuộc đến nhà xuất bản, đơn vị phát hành và chính quyền địa phương. Bộ trưởng không trực tiếp thực hiện việc thống kê từng học sinh hay điều chuyển từng đơn hàng sách, nhưng với vai trò người đứng đầu, có trách nhiệm bảo đảm hệ thống quản lý có cơ chế phù hợp để các công việc này được thực hiện chính xác và kịp thời. Điều này cho thấy sự khác nhau giữa trách nhiệm ở từng khâu thực hiện và trách nhiệm quản lý.

Vì vậy, việc người đứng đầu nhận trách nhiệm nên được xem là điểm bắt đầu của quá trình nhìn lại và hoàn thiện cơ chế quản lý, qua đó giúp hệ thống chủ động hơn trong việc nhận diện rủi ro và xử lý các vấn đề có thể phát sinh trong những năm tiếp theo", ông Hiệp khẳng định.

Thi Thi - Khánh Hòa