Ngày 24/9/2026 Ban Thường vụ Thành ủy Hải Phòng có Thông báo số 598-TB/TU thông báo kết luận của Ban Thường vụ Thành ủy, theo đó Ban Thường vụ Thành ủy đồng ý chủ trương trình Hội đồng nhân dân thành phố ban hành Nghị quyết quy định chính sách hỗ trợ đào tạo một số nghề trên địa bàn thành phố Hải Phòng giai đoạn 2026-2030 thay thế Nghị quyết số 03/2024/NQ-HĐND ngày 19/7/2024 của Hội đồng nhân dân thành phố; đồng thời, giao Đảng ủy Ủy ban nhân dân thành phố chỉ đạo hoàn thiện hồ sơ trình Hội đồng nhân dân thành phố xem xét thông qua ngày 25/9/2026.
Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, đại diện Sở Giáo dục và Đào tạo Hải Phòng đã thông tin về chính sách hỗ trợ đào tạo một số nghề trên địa bàn thành phố giai đoạn 2026–2030. Chính sách được định hướng theo nhu cầu thực tế của thị trường lao động, trong đó tập trung hỗ trợ người học lựa chọn những ngành, nghề thành phố đang cần, đồng thời gắn chất lượng đào tạo với cơ hội việc làm sau tốt nghiệp. Qua đó, nguồn ngân sách được sử dụng có trọng tâm, góp phần phát triển đội ngũ nhân lực kỹ thuật phục vụ trực tiếp các mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội của Hải Phòng.
Yêu cầu về nguồn nhân lực có kỹ năng nghề ngày càng cao cần một chính sách hỗ trợ thiết thực
Theo đại diện Sở Giáo dục và Đào tạo thành phố Hải Phòng, sau hợp nhất, quy mô, không gian phát triển kinh tế - xã hội của thành phố được mở rộng; yêu cầu về nguồn nhân lực kỹ thuật, lao động có tay nghề, kỹ năng nghề ngày càng cao, nhất là trong các lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo, công nghệ cao, logistics, kinh tế biển, thương mại điện tử, tự động hóa và chuyển đổi số.
Từ ngày 01/7/2026, trên địa bàn thành phố có 8 cơ sở giáo dục đại học (6 công lập, 2 tư thục); 47 cơ sở giáo dục nghề nghiệp, gồm 22 trường cao đẳng (14 công lập, 8 tư thục), 11 trường trung cấp (2 công lập, 9 tư thục), 14 trung tâm giáo dục nghề nghiệp (2 công lập, 12 tư thục) và 11 doanh nghiệp tham gia hoạt động giáo dục nghề nghiệp. Quy mô tuyển sinh giáo dục nghề nghiệp bình quân hằng năm khoảng 96.300 học sinh, sinh viên, học viên; trong đó, trình độ sơ cấp và đào tạo dưới 3 tháng khoảng 73.500 học viên.
Trong giai đoạn phát triển mới, thành phố đặt ra yêu cầu tiếp tục nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tăng tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ (đến năm 2030 có khoảng 87.000 doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn thành phố và tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ đạt 55%); đồng thời bảo đảm nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu của các khu công nghiệp, khu kinh tế và doanh nghiệp trên địa bàn. Đây là cơ sở thực tiễn quan trọng để thành phố tiếp tục hoàn thiện chính sách hỗ trợ đào tạo nghề.
Bên cạnh đó, sau hợp nhất thành phố Hải Phòng, cần thống nhất chính sách trên toàn địa bàn, kế thừa những nội dung còn phù hợp của Nghị quyết số 03/2024/NQ-HĐND, đồng thời điều chỉnh các quy định chưa phù hợp với tình hình thực tế và các quy định pháp luật mới.
Kết quả thực hiện chính sách trước đây cho thấy, từ tháng 8/2024 đến hết tháng 4/2026 có 537 học sinh, sinh viên của 7 trường khu vực phía Đông Hải Phòng đề nghị hỗ trợ. Năm 2025, thành phố bố trí hơn 31 tỷ đồng nhưng kinh phí thực hiện khoảng 4,8 tỷ đồng (khoảng 15%); năm 2026 đã bố trí hơn 38,2 tỷ đồng hỗ trợ người học và nhà giáo.
Thực tiễn triển khai cũng cho thấy số người đề nghị hỗ trợ chưa cao, chủ yếu do điều kiện hỗ trợ gắn với cam kết giải quyết việc làm giữa cơ sở đào tạo và doanh nghiệp, cam kết của người học làm việc ở thành phố Hải Phòng tối thiểu 3 năm ngay sau khi tốt nghiệp còn khó thực hiện. Đây là một trong những căn cứ để Sở Giáo dục và Đào tạo phối với các sở, ngành tham mưu cấp có thẩm quyền ban hành chính sách điều chỉnh điều kiện hỗ trợ, theo hướng rõ đầu ra, rõ trách nhiệm, khả thi hơn và bổ sung một số ngành, nghề nhằm cập nhật sát hơn nhu cầu nhân lực trong quá trình công nghiệp hóa, tự động hóa, chuyển đổi số và phát triển các ngành kinh tế có lợi thế của thành phố.
Từ thực tiễn đó, đại diện Sở Giáo dục và Đào tạo thành phố Hải Phòng cho hay việc xây dựng chính sách hỗ trợ đào tạo một số nghề trên địa bàn thành phố Hải Phòng giai đoạn 2026 - 2030 tập trung vào 4 mục tiêu chính:
Thứ nhất, khuyến khích người học lựa chọn các ngành, nghề mà thị trường lao động thành phố đang có nhu cầu, nhất là các nghề kỹ thuật, công nghệ, dịch vụ và ngành nghề phục vụ trực tiếp các định hướng phát triển kinh tế của Hải Phòng.
Thứ hai, hỗ trợ người học giảm bớt chi phí trong quá trình học nghề, góp phần tăng tuyển sinh trình độ trung cấp, cao đẳng và tăng tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ.
Thứ ba, gắn đào tạo với sử dụng lao động, khuyến khích người học sau khi tốt nghiệp làm việc tại các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố, qua đó nâng cao hiệu quả sử dụng ngân sách hỗ trợ.
Thứ tư, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo giáo dục nghề nghiệp, đồng thời huy động kỹ sư, người làm công việc kỹ thuật và nghệ nhân có kinh nghiệm thực tiễn tham gia giảng dạy tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp.
Dự kiến bố trí 699,847 tỷ đồng hỗ trợ đào tạo 14 nghề
Theo đại diện Sở Giáo dục và Đào tạo thành phố Hải Phòng danh mục dự kiến được hỗ trợ gồm 14 nghề: Logistics; Điện tử công nghiệp; Điện công nghiệp; Hàn; Công nghệ ô tô; Công nghệ thông tin (ứng dụng phần mềm); Quản trị khách sạn; Điều dưỡng; Nuôi trồng thủy sản nước mặn, nước lợ; Cơ điện tử; Công nghệ kỹ thuật cơ điện tử; Thương mại điện tử; Tự động hóa công nghiệp; Vận hành, sửa chữa thiết bị lạnh.
So với Nghị quyết số 03/2024/NQ-HĐND, danh mục tăng thêm 5 nghề, gồm: Cơ điện tử; Công nghệ kỹ thuật cơ điện tử; Thương mại điện tử; Tự động hóa công nghiệp; Vận hành, sửa chữa thiết bị lạnh. Việc mở rộng danh mục nhằm cập nhật sát hơn nhu cầu nhân lực trong quá trình công nghiệp hóa, tự động hóa, chuyển đổi số và phát triển các ngành kinh tế có lợi thế của thành phố.
Các nhóm đối tượng được hưởng chính sách bao gồm: Người lao động đang làm việc tại doanh nghiệp trên địa bàn thành phố, chưa có bằng cấp, chứng chỉ phù hợp với vị trí việc làm và được doanh nghiệp cử đi học trình độ trung cấp.
Học sinh đã tốt nghiệp hoặc hoàn thành chương trình trung học cơ sở trở lên học trình độ trung cấp; người tốt nghiệp trung học phổ thông học trình độ trung cấp hoặc cao đẳng.
Nhà giáo cơ hữu trực tiếp giảng dạy trung cấp, cao đẳng tại các trường công lập nhưng chưa đáp ứng yêu cầu về năng lực thực hành nghề.
Người làm công việc kỹ thuật tại doanh nghiệp, nghệ nhân cấp tỉnh trở lên có nhu cầu tham gia giảng dạy thỉnh giảng nhưng chưa đáp ứng yêu cầu về nghiệp vụ sư phạm.
Về mức hỗ trợ, đối với người lao động được doanh nghiệp cử đi học trung cấp: hỗ trợ 50% mức học phí phải nộp; mức học phí làm căn cứ tính hỗ trợ tối đa bằng mức trần học phí đối với chương trình trung cấp tại cơ sở giáo dục nghề nghiệp công lập chưa tự bảo đảm chi thường xuyên do cơ quan có thẩm quyền công bố.
Đối với học sinh, người học trung cấp, cao đẳng thuộc đối tượng của chính sách: hỗ trợ chi phí học tập 900.000 đồng/người/tháng.
Đối với nhà giáo cơ hữu: hỗ trợ bồi dưỡng năng lực thực hành nghề một lần, tối đa 10.000.000 đồng/người/khóa học.
Đối với người làm kỹ thuật, nghệ nhân tham gia giảng dạy thỉnh giảng: hỗ trợ bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm một lần, tối đa 3.000.000 đồng/người/khóa học.
Theo đại diện Sở giáo dục và Đào tạo thành phố Hải Phòng, chính sách của thành phố đã mở rộng danh mục nghề sát với nhu cầu thị trường lao động. Từ 9 nghề theo chính sách trước đây lên 14 nghề, bổ sung một số nghề liên quan trực tiếp tới cơ điện tử, tự động hóa, thương mại điện tử và kỹ thuật lạnh.
Đồng thời chính sách cũng quy định rõ mức trần làm căn cứ tính hỗ trợ học phí. Việc bổ sung mức trần nhằm bảo đảm công khai, thống nhất và kiểm soát chi ngân sách, nhất là đối với cơ sở giáo dục nghề nghiệp tư thục hoặc cơ sở được tự quyết định mức học phí.
Theo đại diện Sở Giáo dục và Đào tạo thành phố Hải Phòng, người học sau khi tốt nghiệp phải gắn việc thụ hưởng chính sách với việc làm tại doanh nghiệp trên địa bàn thành phố. Thời gian làm việc tối thiểu được quy định là 20 tháng đối với trình độ trung cấp và 30 tháng đối với trình độ cao đẳng tùy từng nhóm đối tượng và hình thức hưởng hỗ trợ. Người học ngoài thành phố cũng có thể được hỗ trợ nếu học đúng nghề thuộc danh mục và đáp ứng điều kiện làm việc tại doanh nghiệp trên địa bàn Hải Phòng. Đây là điểm quan trọng nhằm chuyển từ hỗ trợ đơn thuần cho quá trình học sang hỗ trợ đào tạo gắn với đầu ra, việc làm và nhu cầu nhân lực thực tế của thành phố.
Người có công và thân nhân người có công, người khuyết tật, người dân tộc thiểu số, người thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo được dự kiến hỗ trợ trong quá trình học, tối đa 10 tháng/năm học, thay vì phải chờ đến sau khi tốt nghiệp. Các đối tượng còn lại chủ yếu nhận hỗ trợ một lần sau khi tốt nghiệp và đáp ứng các điều kiện về việc làm, hợp đồng lao động, bảo hiểm xã hội theo quy định.
Đối với nhà giáo cơ hữu được hỗ trợ bồi dưỡng năng lực thực hành nghề, bổ sung yêu cầu cam kết tiếp tục giảng dạy trình độ trung cấp, cao đẳng tại trường công lập trên địa bàn thành phố tối thiểu 36 tháng kể từ ngày được cấp chứng chỉ, qua đó tăng hiệu quả đầu tư ngân sách cho đội ngũ nhà giáo.
Người hưởng chính sách nhưng không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ cam kết phải hoàn trả kinh phí đã nhận. Đồng thời, các trường hợp khách quan như bệnh hiểm nghèo, tai nạn, bất khả kháng dẫn đến mất khả năng lao động hoặc tử vong thì không phải hoàn trả. Quy định này nhằm bảo đảm vừa chặt chẽ trong sử dụng ngân sách nhà nước, vừa có tính nhân văn đối với các trường hợp bất khả kháng.
Theo phương án tính toán trong hồ sơ, tổng số đối tượng dự kiến được hỗ trợ là 35.390 người, gồm 34.990 người học và 400 nhà giáo giáo dục nghề nghiệp.
Tổng kinh phí dự kiến là 699,847 tỷ đồng từ ngân sách nhà nước; trong đó, hỗ trợ người học: 696,897 tỷ đồng; Hỗ trợ nhà giáo giáo dục nghề nghiệp: 2,950 tỷ đồng.
So với phương án trước đây, số người dự kiến được hỗ trợ tăng 13.125 người, kinh phí tăng khoảng 272,484 tỷ đồng, chủ yếu do mở rộng địa bàn sau hợp nhất, tăng danh mục nghề, số cơ sở đào tạo và số người học được tiếp cận chính sách.
Việc thực hiện chính sách dự kiến sử dụng bộ máy và nhân lực hiện có, không phát sinh thêm bộ máy, biên chế và thủ tục hành chính.
Thành phố Hải Phòng kỳ vọng chính sách sẽ góp phần thu hút người học vào các ngành nghề thị trường lao động đang cần; giảm gánh nặng chi phí học nghề; nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên giáo dục nghề nghiệp; đồng thời tăng khả năng cung ứng lao động kỹ thuật có tay nghề cho các doanh nghiệp trên địa bàn.