Dự thảo Thông tư sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy chế tuyển sinh trình độ đại học và tuyển sinh trình độ cao đẳng ngành Giáo dục Mầm non mới nhất do Bộ Giáo dục và Đào tạo công bố có nhiều điều chỉnh đáng chú ý, trong đó nhấn mạnh yêu cầu bảo đảm công bằng trong tuyển sinh.
Theo dự thảo, mỗi phương thức tuyển sinh gắn với một mã số và “phải bảo đảm cơ hội cho tất cả các thí sinh tham gia xét tuyển”.
Công bằng không chỉ là chuyện “ai cũng được đăng ký” thi
Trao đổi về quy định này, thầy Vũ Khắc Ngọc - chuyên gia giáo dục nhiều năm theo dõi các kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông và tuyển sinh đại học, cho rằng đây là điểm đáng chú ý, bởi công bằng trong tuyển sinh trước hết phải bắt đầu từ quyền được tiếp cận cơ hội.
“Nếu một phương thức xét tuyển đã được một trường sử dụng thì về nguyên tắc, thí sinh ở Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh hay một huyện miền núi đều phải có cơ hội tiếp cận phương thức đó theo cùng một tiêu chí”, thầy Ngọc nói.
Theo thầy Ngọc, dự thảo cũng đặt ra yêu cầu mỗi phương thức phải có mã số, tiêu chí đánh giá rõ ràng và chỉ sử dụng một thang điểm xét tuyển. Đây là những yếu tố có thể góp phần làm rõ cách thức tuyển sinh và cơ hội của thí sinh.
Tuy nhiên, thầy Ngọc cho rằng cần phân biệt giữa “cơ hội bình đẳng” và “điều kiện tiếp cận giống hệt nhau”.
Một học sinh ở thành phố có thể dễ dàng đi thi nhiều đợt, di chuyển đến các điểm thi, tham gia các khóa luyện thi; trong khi học sinh ở vùng xa có thể phải tốn thêm nhiều chi phí và thời gian.
“Vì vậy, nếu chỉ quy định rằng “ai cũng được đăng ký” thì mới chỉ là công bằng về mặt thủ tục. Công bằng thực chất phải tiến thêm một bước: cùng một cơ hội nhưng phải cố gắng giảm những rào cản không liên quan đến năng lực của thí sinh, chẳng hạn khoảng cách địa lý, chi phí dự thi, khả năng tiếp cận thông tin hay hạ tầng công nghệ”, thầy Ngọc phân tích.
Từ góc nhìn này, thầy cho rằng khi tuyển sinh có càng nhiều phương thức thì càng phải bảo đảm mỗi phương thức thực sự là một “cánh cửa” mở cho thí sinh trên phạm vi rộng, thay vì về lý thuyết ai cũng có thể tham gia nhưng trên thực tế chỉ một nhóm thí sinh có điều kiện mới dễ dàng tiếp cận.
Đề xuất tính toán thời gian tổ chức kỳ thi riêng sau kỳ thi tốt nghiệp
Một vấn đề được đặt ra trong tuyển sinh đại học là cách sắp xếp thời gian tổ chức các kỳ thi đánh giá năng lực, đánh giá tư duy, trong bối cảnh học sinh hiện phải chuẩn bị đồng thời cho kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông và các kỳ thi riêng do cơ sở giáo dục đại học tổ chức nếu thí sinh đăng ký.
Để tăng cơ hội xét tuyển, học sinh có thể phải lựa chọn và tham gia một số kỳ thi đánh giá năng lực, đánh giá tư duy phù hợp với phương án tuyển sinh của các trường đại học. Theo cô Nguyễn Thị Kiên Chung - giáo viên Trường Trung học phổ thông Đức Hợp (tỉnh Hưng Yên), việc này khiến thời gian học tập và ôn luyện của học sinh bị phân tán.
“Cố gắng để chọn các kỳ thi do các trường đại học tổ chức, một bạn có thể tham gia một vài kỳ thi. Điều này ít nhiều có áp lực nhất định với học trò”, cô Chung chia sẻ.
Từ thực tế này, cô Chung cho rằng cần tính toán thời gian tổ chức các kỳ thi riêng theo hướng đưa về sau thời gian tổ chức kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông. Theo cô, cách tổ chức này đã được khối các trường thuộc Bộ Công an thực hiện.
“Thi tốt nghiệp trung học phổ thông xong rồi thí sinh quay sang ôn thi kỳ thi riêng thì chất lượng giáo dục phổ thông cũng nâng lên”, cô Chung nói.
Theo nữ giáo viên, khi học sinh được tập trung hoàn thành chương trình giáo dục phổ thông và kỳ thi tốt nghiệp trước, sau đó mới chuẩn bị cho kỳ thi phục vụ mục tiêu tuyển sinh đại học, việc phân bổ thời gian học tập có thể rõ ràng hơn. Học sinh không phải cùng lúc chia thời gian cho nhiều kỳ thi với những yêu cầu đánh giá khác nhau.
Tuy nhiên, cô Chung nhấn mạnh việc thay đổi thời điểm tổ chức các kỳ thi riêng cần được tính toán về dài hạn, không nên thực hiện ngay mà thiếu thời gian chuẩn bị.
Thầy Vũ Khắc Ngọc cũng cho rằng đề xuất tính toán thời gian tổ chức kỳ thi riêng sau kỳ thi tốt nghiệp có cơ sở nhất định. Theo thầy, điều này có thể giúp học sinh tập trung hơn cho việc hoàn thành chương trình phổ thông và kỳ thi tốt nghiệp trước khi bước sang giai đoạn tuyển sinh đại học.
Tuy nhiên, thầy cho rằng không nên kỳ vọng chỉ bằng việc “đưa tất cả về sau kỳ thi tốt nghiệp” là có thể tự động giải quyết bài toán áp lực.
“Áp lực của học sinh không chỉ đến từ thời điểm tổ chức kỳ thi, mà còn đến từ số lượng kỳ thi, mức độ trùng lặp về nội dung, số lần phải di chuyển, chi phí và thời gian ôn luyện. Nếu vẫn có quá nhiều kỳ thi riêng nhưng chỉ dồn vào một khoảng thời gian ngắn sau kỳ thi tốt nghiệp thì áp lực có thể chỉ chuyển từ trước sang sau”, thầy Ngọc nói.
Bên cạnh đó, theo thầy Ngọc, kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông hiện nay đã được thiết kế theo hướng đánh giá năng lực phù hợp với Chương trình giáo dục phổ thông 2018. Do đó, cần nhìn tổng thể hệ thống đánh giá thay vì chỉ điều chỉnh lịch tổ chức từng kỳ thi.
“Nguyên tắc nên là học sinh cần có một kỳ thi nền tảng để hoàn thành chương trình phổ thông, sau đó mới có thêm những kỳ thi chuyên biệt nếu thực sự cần thiết cho mục tiêu tuyển sinh. Các kỳ thi này nên được sắp xếp thành một lịch có thể dự báo, hạn chế tối đa việc các em phải chạy đua giữa nhiều kỳ thi trong cùng một giai đoạn”, thầy Ngọc đề xuất.
Theo thầy, điều cần giảm không đơn thuần là “áp lực trước hay sau kỳ thi tốt nghiệp”, mà còn là chi phí cơ hội của việc phải chuẩn bị quá nhiều cuộc thi khác nhau.
Kỳ thi riêng phải chứng minh được giá trị và hạn chế chi phí cho thí sinh
Liên quan đến việc tổ chức các kỳ thi riêng, thầy Vũ Khắc Ngọc cho rằng một kỳ thi chỉ có ý nghĩa khi đo được một năng lực mà phương thức khác chưa đo tốt, phù hợp với yêu cầu của ngành đào tạo và có độ tin cậy, độ giá trị đủ cao để sử dụng cho tuyển sinh.
Theo thầy, việc quản lý các kỳ thi riêng cần dựa trên một số nguyên tắc.
Trước hết, các kỳ thi phải có chuẩn đầu vào về năng lực khảo thí, từ ngân hàng câu hỏi, quy trình ra đề, thử nghiệm, phân tích câu hỏi đến bảo mật, chấm thi và xử lý khiếu nại.
Thứ hai, đơn vị tổ chức phải chứng minh được giá trị của kỳ thi. Việc một trường tự xây dựng một bài thi không đồng nghĩa bài thi đó mặc nhiên có giá trị tuyển sinh. Cần có bằng chứng cho thấy bài thi đo được những năng lực mà trường tuyên bố muốn đo và kết quả có ý nghĩa đối với việc dự báo khả năng học tập trong chương trình.
Thứ ba, cần mở rộng khả năng sử dụng kết quả nếu có thể. Một kỳ thi có chất lượng nhưng chỉ phục vụ một vài ngành hoặc một trường có thể làm tăng số lần thi mà học sinh phải tham gia. Ngược lại, nếu nhiều cơ sở đào tạo có thể cùng sử dụng một kết quả được chuẩn hóa thì chi phí xã hội có thể giảm đáng kể.
Cuối cùng là yêu cầu minh bạch về mục tiêu kỳ thi, cấu trúc, phạm vi đánh giá, cách tính điểm, quy trình bảo đảm chất lượng và cách sử dụng kết quả.
“Tôi nghĩ rằng điều cần hướng tới là ít kỳ thi trùng lặp, nhưng những kỳ thi thực sự cần thiết thì phải có chất lượng, có giá trị sử dụng và tạo ra cơ hội tiếp cận rộng cho thí sinh”, thầy Ngọc nói.
Đại học được lựa chọn thí sinh theo yêu cầu nhưng phải chịu trách nhiệm trước xã hội
Cùng bàn về vấn đề này, Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Tất Dong - nguyên Phó Chủ tịch Hội Khuyến học Việt Nam, nguyên Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương, cho rằng cần nhìn nhận hai bậc học trong một quá trình nối tiếp.
Theo Giáo sư Phạm Tất Dong, giáo dục phổ thông kéo dài 12 năm và kết thúc bằng quá trình đánh giá. Khi học sinh hoàn thành giai đoạn này, có thể coi giáo dục phổ thông đã hoàn thành nhiệm vụ của mình.
Trong khi đó, giáo dục đại học là chương trình nối tiếp với những yêu cầu đào tạo khác nhau. Tùy từng ngành, lĩnh vực, từ khoa học xã hội, nhân văn đến công nghệ, kỹ thuật, các trường có thể cần những nhóm năng lực và yêu cầu đầu vào khác nhau.
Do đó, Giáo sư Phạm Tất Dong cho rằng các trường đại học được trao quyền lựa chọn học sinh theo yêu cầu, năng lực mà nhà trường mong muốn. Theo ông, đây là cách tiếp cận hợp logic giữa hai bậc học.
Tuy nhiên, theo Giáo sư Phạm Tất Dong, trao quyền cho các trường cũng phải đi kèm với trách nhiệm trước xã hội.
Bộ Giáo dục và Đào tạo cần có những quy định để bảo đảm việc tổ chức các phương thức kiểm tra, đánh giá vừa đáp ứng yêu cầu riêng của từng cơ sở đào tạo, vừa không tạo thêm những gánh nặng không cần thiết cho thí sinh.
“Cách kiểm tra có thể đa dạng, tùy yêu cầu nhân lực từng trường, nhưng các trường phải chịu trách nhiệm trước xã hội”, Giáo sư Phạm Tất Dong nhấn mạnh.