Giáo viên đánh giá cách tổ chức bài học trong SGK tác động tích cực đến phát triển năng lực học sinh

29/09/2026 08:54
Phúc Khang

GDVN - Giáo viên đánh giá, hệ thống bài giảng trong sách giáo khoa hiện nay có tác động tích cực trong việc định hướng lộ trình học tập và phát triển năng lực của học sinh.

Từ năm học 2026 – 2027, học sinh các trường phổ thông trong cả nước sẽ sử dụng một bộ sách giáo khoa duy nhất là Bộ sách Kết nối tri thức với cuộc sống. Những lợi thế, ưu điểm của bộ sách được lãnh đạo trường học, giáo viên đánh giá cao.

Hệ thống bài giảng có tác động tích cực đến phát triển năng lực học sinh

Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, thầy Nguyễn Văn Chất - giáo viên Trường Tiểu học và Trung học cơ sở Tiến Thịnh (xã Yên Lãng, Hà Nội) đánh giá, bộ sách giáo khoa đang được sử dụng với nội dung được xây dựng phù hợp với đặc điểm tâm lý, nhận thức và khả năng tiếp thu của học sinh trong từng độ tuổi.

“Một điểm đáng ghi nhận là kiến thức được lựa chọn và sắp xếp theo hướng vừa sức, không tạo cảm giác quá nặng nề, đồng thời vẫn bảo đảm yêu cầu về chuẩn kiến thức, kỹ năng của chương trình giáo dục phổ thông.

Ngoài ra, bộ sách cũng hỗ trợ giáo viên khá rõ ở cả ba phương diện là cung cấp nội dung chuẩn theo chương trình, định hướng cách tổ chức bài học và hỗ trợ kiểm tra, đánh giá quá trình học tập của học sinh.

Ví dụ với môn Ngữ văn, trước hết, sách giáo khoa cung cấp nội dung chuẩn và được tổ chức theo một hệ thống tương đối khoa học, logic. Sau mỗi bài học, hệ thống câu hỏi đọc hiểu được thiết kế theo đặc trưng thể loại và yêu cầu cần đạt của chương trình. Vì vậy, giáo viên có một cơ sở tương đối thống nhất để xác định học sinh cần đạt những kiến thức, kỹ năng và năng lực nào sau mỗi bài học.

Bên cạnh đó, giáo viên không phải tự xây dựng lại toàn bộ hệ thống kiến thức mà có thể dựa trên cấu trúc của sách giáo khoa để chủ động thiết kế hoạt động dạy học phù hợp với đối tượng học sinh và điều kiện thực tế của lớp học.

Cách thiết kế bài học cũng tạo điều kiện để giáo viên linh hoạt vận dụng các phương pháp dạy học. Các bài học được triển khai theo một trình tự hợp lí, bám sát đặc trưng thể loại, từ khám phá văn bản đến phân tích nội dung, nghệ thuật, sau đó liên hệ và vận dụng”, thầy Nguyễn Văn Chất nói.

gdvn_sgk3.jpg
Ảnh minh hoạ: Phúc Khang

Còn theo đánh giá của thầy Phan Thế Hoài - giáo viên môn Ngữ văn Trường Trung học phổ thông Bình Hưng Hoà (thành phố Hồ Chí Minh), hệ thống bài giảng trong sách giáo khoa hiện nay có tác động tích cực khá rõ trong việc định hướng lộ trình học tập và phát triển năng lực của học sinh.

“Ví dụ như với môn Ngữ văn ở bậc trung học phổ thông, chương trình được tổ chức theo hệ thống 105 tiết học bắt buộc và 35 tiết chuyên đề học tập mỗi lớp mỗi năm, tạo nên một lộ trình tương đối rõ ràng, từ hình thành kiến thức nền tảng đến vận dụng, thực hành và phát triển năng lực.

Về định hướng lộ trình học tập, hệ thống bài học giúp giáo viên và học sinh hình dung được mạch kiến thức, kỹ năng cần đạt trong từng giai đoạn. Nội dung không chỉ tập trung vào việc cung cấp kiến thức văn học và tiếng Việt mà được triển khai gắn với bốn kỹ năng đọc, viết, nói và nghe. Nhờ đó, học sinh có thể từng bước tích lũy kiến thức, rèn luyện kỹ năng và vận dụng vào những tình huống học tập, giao tiếp thực tế”, thầy Phan Thế Hoài cho hay.

Về rèn luyện kỹ năng học tập, thầy Hoài đánh giá cao việc sách giáo khoa ngày càng chú trọng đến hoạt động của học sinh thay vì chỉ trình bày kiến thức để ghi nhớ. Học sinh được đọc và phân tích văn bản, tìm kiếm và xử lí thông tin, viết, trình bày quan điểm, thảo luận, tranh luận và phản hồi ý kiến của người khác.

Đặc biệt, các hoạt động nói và nghe góp phần hình thành năng lực giao tiếp tương tác. Học sinh không chỉ biết trình bày một vấn đề mạch lạc, sử dụng lập luận và ngôn ngữ phù hợp mà còn phải biết lắng nghe, ghi nhận ý kiến khác biệt và phản hồi một cách có căn cứ, xây dựng.

Về phát triển năng lực toàn diện, hệ thống bài học tạo điều kiện để môn học vượt ra khỏi mục tiêu truyền thụ kiến thức. Thông qua việc đọc hiểu, viết, nói và nghe, học sinh được phát triển tư duy phản biện, khả năng cảm thụ thẩm mỹ, năng lực giao tiếp và khả năng trình bày, bảo vệ quan điểm. Đây cũng là những năng lực cần thiết cho việc học tập ở bậc cao hơn cũng như thích ứng với đời sống và môi trường lao động sau này.

Tuy nhiên, thầy Phan Thế Hoài cũng nhận định, hiệu quả của hệ thống bài giảng còn phụ thuộc vào cách giáo viên tổ chức dạy học. Nếu giáo viên chỉ bám vào câu hỏi trong sách và yêu cầu học sinh trả lời theo mẫu thì ưu điểm của chương trình sẽ chưa được phát huy đầy đủ.

Ngược lại, khi giáo viên biết lựa chọn nội dung, thiết kế hoạt động phù hợp và tạo cơ hội cho học sinh tự đọc, tự suy nghĩ, trao đổi và trình bày, hệ thống bài giảng trong sách giáo khoa sẽ thực sự trở thành một lộ trình để học sinh chủ động học tập và phát triển năng lực, chứ không đơn thuần là một hệ thống bài học để hoàn thành nhiệm vụ học tập được giao.

Nội dung có sự kết hợp giữa lý thuyết và hoạt động thực hành, học sinh chủ động hơn

Theo thầy Nguyễn Văn Chất, trong nội dung bộ sách giáo khoa nói riêng ở cấp trung học cơ sở thì từ lớp 6 đến lớp 9 nội dung các môn học được thiết kế theo một lộ trình tương đối khoa học. Kiến thức của lớp trước tạo nền tảng để học sinh tiếp cận kiến thức của lớp sau, hạn chế tình trạng dồn quá nhiều nội dung vào một giai đoạn hoặc đưa những vấn đề vượt quá khả năng nhận thức của học sinh.

Ngoài ra, cách trình bày cũng có sự kết hợp giữa kiến thức lý thuyết với hình ảnh, tình huống, câu hỏi và các hoạt động thực hành, qua đó giúp học sinh chủ động hơn trong quá trình học tập.

“Riêng với môn Lịch sử lớp 6, tôi đánh giá đây là phần có nhiều điểm phù hợp với học sinh. Những bài học đầu tiên về lịch sử được trình bày tương đối trực quan, không quá trừu tượng hay nặng về ghi nhớ sự kiện. Kiến thức lịch sử được đặt trong những câu chuyện, hình ảnh và vấn đề gần gũi, giúp học sinh bước đầu hình thành cách nhìn về quá khứ một cách tự nhiên”, thầy Nguyễn Văn Chất nhận định.

Còn theo quan điểm của thầy Phan Thế Hoài, một trong những vai trò quan trọng của sách giáo khoa là góp phần tạo ra mặt bằng chung về nội dung và yêu cầu giáo dục trên phạm vi cả nước. Giáo viên ở các địa phương đều dạy học theo chương trình giáo dục phổ thông đã được ban hành, trong đó sách giáo khoa là tài liệu quan trọng để cụ thể hóa nội dung, yêu cầu cần đạt và định hướng tổ chức dạy học.

Việc có một chương trình và hệ thống sách giáo khoa được xây dựng theo những yêu cầu chung giúp học sinh ở các vùng miền khác nhau, dù điều kiện học tập có thể không giống nhau, vẫn được tiếp cận những kiến thức cốt lõi, kỹ năng và năng lực cơ bản theo cùng một chuẩn. Đây là cơ sở để bảo đảm sự thống nhất của nền giáo dục, đồng thời tạo thuận lợi cho việc kiểm tra, đánh giá và công nhận kết quả học tập giữa các địa phương.

gdvn_sgk2.jpg
Giáo viên đánh giá, nội dung trong bộ sách giáo khoa thống nhất có sự kết hợp giữa lý thuyết với thực hành một cách sinh động, học sinh tiếp thu tốt hơn. Ảnh minh hoạ: Phúc Khang

“Chẳng hạn, với môn Ngữ văn ở bậc trung học phổ thông, dù giáo viên ở thành phố, nông thôn, miền núi hay những địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khác nhau, khi triển khai cùng một chương trình vẫn hướng học sinh đến những yêu cầu chung về đọc, viết, nói và nghe; hình thành năng lực ngôn ngữ, năng lực văn học và những phẩm chất, năng lực cần thiết. Sách giáo khoa cung cấp hệ thống văn bản, kiến thức, câu hỏi và nhiệm vụ học tập làm cơ sở để giáo viên triển khai những yêu cầu đó một cách tương đối thống nhất.

Tuy nhiên, đồng bộ không có nghĩa là dạy học hoàn toàn giống nhau ở mọi nơi. Chương trình và sách giáo khoa tạo ra chuẩn chung, còn giáo viên cần căn cứ vào trình độ học sinh, điều kiện cơ sở vật chất, đặc điểm văn hóa và thực tiễn của địa phương để lựa chọn cách tổ chức dạy học phù hợp. Giáo viên có thể khai thác thêm những tư liệu, văn bản hoặc vấn đề gần gũi với học sinh địa phương, miễn là vẫn bảo đảm các yêu cầu cần đạt của chương trình.

Vì vậy, tôi cho rằng sách giáo khoa có thể được xem như một quy chuẩn chung về mặt nội dung và yêu cầu học tập, góp phần thu hẹp khoảng cách về cơ hội tiếp cận tri thức giữa học sinh các vùng miền. Trên nền tảng thống nhất đó, sự linh hoạt của giáo viên và việc khai thác đặc điểm địa phương sẽ giúp việc dạy học vừa bảo đảm chuẩn chung của quốc gia, vừa phù hợp với thực tế của từng nhà trường và từng đối tượng học sinh”, thầy Phan Thế Hoài bày tỏ.

Phúc Khang