LTS: Văn phòng Chính phủ vừa ban hành Thông báo số 500/TB-VPCP kết luận của Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Tiến Châu tại cuộc họp về các nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm để giải quyết căn bản tình trạng thừa, thiếu giáo viên, gắn với nâng cao chất lượng đào tạo sư phạm.
Theo đó, một trong những nhiệm vụ Phó Thủ tướng yêu cầu đó là trên cơ sở nhu cầu, định mức, Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan liên quan, các địa phương xây dựng phương án tổng thể xử lý tình trạng thừa, thiếu giáo viên. Đồng thời, trên cơ sở quy hoạch đã được phê duyệt, Bộ Giáo dục và Đào tạo tiếp tục rà soát, sắp xếp mạng lưới cơ sở đào tạo giáo viên theo hướng thu gọn đầu mối, chấm dứt tình trạng đào tạo sư phạm ở các trường không phải là trường sư phạm, kém chất lượng. Tập trung nguồn lực phát triển một số trường đại học sư phạm trọng điểm với các tiêu chuẩn, tiêu chí rõ ràng và được đầu tư bài bản, vượt trội; bảo đảm các trường sư phạm trọng điểm phải phát triển trên 3 trụ cột: Đào tạo - Nghiên cứu khoa học - Chuyển giao công nghệ.
Trước yêu cầu cấp thiết này, phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam có cuộc trao đổi với PGS.TS. Võ Văn Minh, Hiệu trưởng Trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng về những định hướng mới trong phát triển đào tạo giáo viên theo Thông báo kết luận số 500/TB-VPCP.
Tòa soạn trân trọng giới thiệu cùng độc giả.
Phóng viên: Thưa PGS.TS Võ Văn Minh, Thông báo kết luận số 500/TB-VPCP đặt vấn đề giải quyết căn bản tình trạng thừa, thiếu giáo viên gắn với nâng cao chất lượng đào tạo sư phạm. Thầy nhìn nhận như thế nào về chủ trương này?
PGS.TS Võ Văn Minh: Thừa, thiếu giáo viên là vấn đề đã tồn tại trong một thời gian dài và không dễ giải quyết bằng một giải pháp đơn lẻ.
Về bản chất, đây không chỉ là câu chuyện thiếu hay thừa về số lượng, mà còn liên quan đến dữ liệu, dự báo nhu cầu, đào tạo, tuyển dụng và sử dụng giáo viên. Các khâu này nếu chưa được kết nối thành một hệ thống thì rất khó tạo ra sự cân bằng bền vững.
Một vấn đề khác là mạng lưới các cơ sở có đào tạo giáo viên còn phân tán. Khi có quá nhiều đầu mối cùng tham gia đào tạo nhưng chưa có sự phân công, phối hợp và điều tiết đủ chặt chẽ, việc bảo đảm chất lượng đồng đều và đáp ứng đúng nhu cầu của từng địa phương, từng môn học, từng cấp học sẽ gặp nhiều khó khăn.
Vì vậy, tôi cho rằng điểm rất đáng chú ý của Kết luận 500 là Chính phủ đã nhìn vấn đề ở tầm hệ thống, không chỉ giải quyết tình trạng thiếu giáo viên trước mắt mà đồng thời đặt yêu cầu nâng cao chất lượng đào tạo và sắp xếp lại mạng lưới.
Nếu được triển khai đồng bộ, đây sẽ là cơ hội để hệ thống đào tạo giáo viên từng bước đi tới một trạng thái cân bằng động, trong đó đào tạo sát hơn với nhu cầu thực tế và khoảng cách giữa các địa phương, các môn học, các cấp học được thu hẹp.
Phóng viên: Chính phủ định hướng thu gọn mạng lưới, chấm dứt đào tạo sư phạm ở những cơ sở không phải trường sư phạm và tập trung nguồn lực phát triển một số trường đại học sư phạm trọng điểm/ chủ chốt. Theo Thầy, điều này đặt ra yêu cầu gì?
PGS.TS Võ Văn Minh: Tôi cho rằng thu gọn đầu mối là cần thiết, nhưng điều quan trọng hơn là phải thu gọn trên cơ sở khoa học, khách quan và có sự phân công hợp lí.
Theo quy hoạch mạng lưới, có 14 cơ sở được phân theo khu vực để giữ vai trò chính trong đào tạo giáo viên. Tuy nhiên, trên thực tế vẫn còn nhiều trường đại học địa phương, đại học đa ngành và các cơ sở đặc thù như ngoại ngữ, nghệ thuật, thể thao… tham gia đào tạo giáo viên.
Nhìn ở góc độ lịch sử, các cơ sở này đều có những đóng góp nhất định. Vì vậy, quá trình sắp xếp cần nhìn nhận đầy đủ lịch sử hình thành, năng lực hiện tại, vị trí địa lí, nhu cầu nhân lực và đóng góp của từng cơ sở, từ đó có một sự phân công phù hợp.
Mục tiêu cuối cùng không phải là giảm số lượng cơ sở bằng mọi giá, mà là tập trung nguồn lực để hình thành những trung tâm đào tạo giáo viên đủ mạnh, đủ năng lực nghiên cứu và đủ sức dẫn dắt chất lượng giáo dục trong từng vùng.
Tôi nghĩ đây là cách tiếp cận sẽ tạo được sự đồng thuận cao và cũng phù hợp hơn với yêu cầu phát triển lâu dài của đất nước.
Phóng viên: Kết luận 500 xác định các trường sư phạm trọng điểm phải phát triển trên ba trụ cột: Đào tạo – Nghiên cứu khoa học – Chuyển giao công nghệ. Thầy đánh giá như thế nào về định hướng này?
PGS.TS Võ Văn Minh: Tôi cho rằng đây là một định hướng rất đúng và rất trúng. Bởi vì trường sư phạm không nên được nhìn đơn thuần như một cơ sở đào tạo nghề.
Đào tạo người thầy là đào tạo những người sẽ tác động trực tiếp đến sự hình thành tri thức, nhân cách, năng lực và cách lựa chọn thái độ sống của nhiều thế hệ học sinh.
Vì vậy, người giáo viên không chỉ cần giỏi chuyên môn, biết phương pháp dạy học hay sử dụng công nghệ. Họ còn phải hiểu tâm lí và sự phát triển của người học; hiểu khoa học giáo dục, khoa học nhận thức; có nền tảng đạo đức nghề nghiệp và khả năng suy nghĩ một cách khoa học về những vấn đề của giáo dục.
Muốn đào tạo được những người thầy như vậy, bản thân trường sư phạm phải là một trung tâm tri thức.
Đào tạo phải gắn với nghiên cứu; nghiên cứu phải đi vào thực tiễn; kết quả nghiên cứu phải được chuyển giao, thử nghiệm và tạo ra tác động đối với nhà trường phổ thông và mầm non.
Ba trụ cột Đào tạo – Nghiên cứu – Chuyển giao vì thế không phải ba hoạt động tách rời. Chúng tạo thành một vòng tròn liên tục: nghiên cứu làm giàu tri thức cho đào tạo, đào tạo cung cấp những vấn đề cho nghiên cứu, còn chuyển giao đưa tri thức vào thực tiễn để kiểm chứng và tạo tác động xã hội.
Đó cũng là lí do các trường sư phạm cần được đầu tư tương xứng. Không thể đặt yêu cầu rất cao về chất lượng đào tạo, nghiên cứu và chuyển giao nhưng lại yêu cầu các trường thực hiện tất cả những nhiệm vụ đó với nguồn lực hạn hẹp.
Phóng viên: Với Trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng (UED), chủ trương này mở ra những cơ hội và trách nhiệm gì?
PGS.TS Võ Văn Minh: Tôi nhìn nhận đây trước hết là một cơ hội để các trường sư phạm đóng góp nhiều hơn cho đất nước.
Trong khoảng 10 năm qua, các trường sư phạm đã chủ động hợp tác thông qua Câu lạc bộ Hiệu trưởng các trường đại học sư phạm, cùng trao đổi về chương trình, chuẩn đầu ra, nghiên cứu khoa học, chia sẻ nguồn lực và kinh nghiệm.
Những hoạt động đó phần lớn xuất phát từ nhu cầu tự thân của các trường. Nếu thời gian tới có một chính sách tổng thể hơn đối với các cơ sở đào tạo giáo viên, đối với đội ngũ giảng viên sư phạm, đối với nghiên cứu khoa học và cơ sở vật chất phục vụ đào tạo, tôi tin rằng năng lực đóng góp của các trường sẽ được nâng lên đáng kể.
Đối với UED, chúng tôi xác định trách nhiệm của mình không chỉ là đào tạo giáo viên cho một địa phương, mà là đóng góp vào chất lượng nguồn nhân lực giáo dục của miền Trung – Tây Nguyên và rộng hơn là của đất nước, bằng cả đào tạo, nghiên cứu và chuyển giao.
Phóng viên: Kết luận 500 yêu cầu chuyển từ tư duy “đào tạo những gì có thể đào tạo” sang “đào tạo theo nhu cầu”. Theo Thầy, điều này cần được thực hiện như thế nào?
PGS.TS Võ Văn Minh: Đây là một chuyển dịch rất cần thiết. Thời gian qua, chúng tôi đã cố gắng nhận diện nhu cầu của hệ thống giáo dục và địa phương thông qua hội thảo, hội nghị, khảo sát và các đề tài nghiên cứu. Những kết quả đó giúp nhà trường cải tiến chương trình và đổi mới phương pháp đào tạo.
Tuy nhiên, để thực sự chuyển sang đào tạo theo nhu cầu, cần có sự thay đổi đồng bộ hơn ở cấp hệ thống.
Trường sư phạm không thể tự mình dự báo toàn bộ nhu cầu giáo viên nếu thiếu một hệ thống dữ liệu đủ tin cậy về quy mô học sinh, cơ cấu môn học, cấp học, địa bàn, nghỉ hưu, tuyển dụng, chuyển nghề và các biến động dân số.
Do đó, tôi nghĩ cần hình thành một hệ thống dữ liệu và dự báo nhu cầu giáo viên thống nhất, trong đó địa phương, cơ quan quản lí và cơ sở đào tạo cùng chia sẻ dữ liệu và cùng chịu trách nhiệm.
Khi có dữ liệu tốt, chúng ta mới có thể chuyển từ “đào tạo theo khả năng cung ứng” sang “đào tạo theo nhu cầu thực”.
Các trường sư phạm sẵn sàng nhận trách nhiệm và chủ động tham gia quá trình này.
Phóng viên: Với đặc thù miền Trung – Tây Nguyên, UED có thể đóng góp như thế nào trong việc dự báo nhu cầu và tổ chức đào tạo theo đặt hàng của địa phương?
PGS.TS Võ Văn Minh: UED có một lợi thế rất quan trọng là có quan hệ khá rộng với các địa phương và các cơ sở giáo dục, từ cấp tỉnh đến cấp xã, từ trường mầm non đến trường phổ thông; đồng thời nhà trường thường xuyên tham gia bồi dưỡng giáo viên các cấp.
Nhờ vậy, những vấn đề thực tiễn của địa phương luôn được chúng tôi quan tâm cập nhật, nghiên cứu, dự báo và tư vấn.
Tuy nhiên, cũng cần nhìn nhận rõ rằng có những vấn đề thuộc phạm vi rộng hơn khả năng của một trường đại học. Nhà trường có thể nhận diện vấn đề, nghiên cứu, tư vấn và cung cấp giải pháp, nhưng để giải quyết căn bản cần có sự phối hợp của cơ quan quản lí, địa phương và toàn hệ thống.
Phóng viên: Một nội dung rất quan trọng của Kết luận 500 là chuẩn hóa chương trình, chuẩn đầu ra và tăng mạnh thời lượng, chất lượng thực hành sư phạm. Theo Thầy, điều gì quyết định việc một sinh viên thực sự đủ năng lực đứng lớp?
PGS.TS Võ Văn Minh: Chuẩn hóa chương trình và chuẩn đầu ra là điều rất cần thiết. Thực tế, các trường trong mạng lưới Câu lạc bộ trường sư phạm đã cùng nhau trao đổi và triển khai nhiều nội dung theo hướng này trong nhiều năm. Tuy nhiên, với một hệ thống còn nhiều cơ sở tham gia đào tạo giáo viên, mỗi nơi có một cách tiếp cận khác nhau thì việc thống nhất những chuẩn cốt lõi là cần thiết để bảo đảm quyền lợi của người học và chất lượng của đội ngũ giáo viên tương lai.
Tôi đặc biệt quan tâm đến thực hành sư phạm. Trường thực hành sư phạm cần thực sự là nơi kết nối giữa đào tạo, thực hành và nghiên cứu khoa học giáo dục. Nhưng bên cạnh đó, sinh viên vẫn cần một mạng lưới rộng các trường mầm non, phổ thông để kiến tập, thực tập và trải nghiệm những môi trường giáo dục khác nhau.
Điều này cần sự phối hợp chặt chẽ giữa trường sư phạm, cơ quan quản lí giáo dục và các cơ sở giáo dục.
Đào tạo một người thầy không thể chỉ diễn ra trong giảng đường đại học. Người thầy tương lai phải được học trong giảng đường, được nghiên cứu trong phòng thí nghiệm giáo dục và được trưởng thành trong môi trường nhà trường thực tế.
Phóng viên: Chính phủ cũng đặt yêu cầu về năng lực số và ứng dụng AI của giáo viên. Theo Thầy, đào tạo giáo viên trong thời đại AI cần thay đổi như thế nào?
PGS.TS Võ Văn Minh: Các trường đào tạo giáo viên hiện nay đã rất quan tâm đến năng lực số và ứng dụng AI. Đội ngũ giảng viên cũng đang chủ động nghiên cứu và ứng dụng các công nghệ mới.
Nhưng tôi cho rằng AI không nên chỉ được xem là một công cụ bổ sung vào chương trình đào tạo.
AI đang làm thay đổi cách con người tiếp cận tri thức, cách dạy và học, cách đánh giá và cả cách tổ chức nhà trường. Vì vậy, đào tạo giáo viên cần nghiên cứu sâu hơn về tác động của AI đối với nhận thức, phương pháp dạy học, đánh giá, đạo đức nghề nghiệp và sự phát triển của người học.
AI có thể hỗ trợ giáo viên rất nhiều, nhưng không nên vì có AI mà đặt mục tiêu tăng khối lượng công việc hay tăng số tiết của giáo viên để bù đắp cho tình trạng thiếu giáo viên.
Công nghệ phải giúp người thầy làm việc hiệu quả hơn và dành nhiều thời gian hơn cho những nhiệm vụ mà máy móc không thể thay thế: hiểu người học, giáo dục nhân cách, truyền cảm hứng, tạo dựng các mối quan hệ và đồng hành với sự phát triển của mỗi học sinh.
Vì vậy, các trường sư phạm cũng cần được đầu tư đủ mạnh về công nghệ, dữ liệu và nghiên cứu để không chỉ ứng dụng AI mà còn đi trước và dẫn dắt việc sử dụng AI trong giáo dục.
Phóng viên: Kết luận 500 yêu cầu xây dựng hệ thống dữ liệu theo dõi sinh viên sư phạm sau tốt nghiệp. Theo Thầy, điều này có ý nghĩa như thế nào?
PGS.TS Võ Văn Minh: Tôi cho rằng đây là một yêu cầu rất cần thiết. Một trường sư phạm không thể chỉ biết mình đào tạo bao nhiêu sinh viên, tốt nghiệp bao nhiêu người, mà cần biết sản phẩm đào tạo của mình đang làm việc ở đâu, có vào nghề hay không, đang gặp những khó khăn gì và năng lực được đào tạo có đáp ứng công việc thực tế hay không. Đó chính là dữ liệu để nhà trường tự điều chỉnh.
UED đã quan tâm đến việc kết nối với cựu sinh viên. Tuy nhiên, cũng cần nhìn nhận rằng sau khi sinh viên tốt nghiệp, nhà trường không còn thẩm quyền quản lí họ. Vì vậy, cần xây dựng cơ chế kết nối, chia sẻ dữ liệu và hợp tác phù hợp, dựa trên sự đồng thuận của người học và sự phối hợp của các bên.
Nếu làm tốt, dữ liệu sau tốt nghiệp sẽ tạo thành một vòng phản hồi rất quan trọng: nhu cầu của hệ thống → đào tạo → tốt nghiệp → vào nghề → phản hồi từ thực tiễn → cải tiến đào tạo. Đó mới là quản trị chất lượng đào tạo dựa trên bằng chứng.
Phóng viên: Kết luận cũng yêu cầu tăng cường liên kết giữa trường sư phạm và trường phổ thông. UED đang thực hiện điều này như thế nào?
PGS.TS Võ Văn Minh: Hiện nay UED đã xây dựng mạng lưới các cơ sở giáo dục phối hợp thực hành, thực tập và có thể xem đây là những “vệ tinh” quan trọng của nhà trường.
Mối quan hệ này đem lại lợi ích cho tất cả các bên. Sinh viên có môi trường thực hành; nhà trường có thêm thông tin thực tiễn để điều chỉnh chương trình; giảng viên có môi trường để nghiên cứu, thử nghiệm các kết quả nghiên cứu; còn các cơ sở giáo dục có thêm nguồn lực hỗ trợ từ sinh viên và giảng viên.
Tôi nghĩ mô hình này cần được phát triển thành một hệ sinh thái đào tạo giáo viên, trong đó trường sư phạm và trường phổ thông không phải hai bên “gửi – nhận” sinh viên thực tập, mà cùng tham gia đào tạo người thầy.
Để làm được điều đó trên quy mô lớn, rất cần những hướng dẫn chung và cơ chế phối hợp thống nhất để các địa phương, cơ sở giáo dục và trường sư phạm cùng hiểu rõ trách nhiệm và cùng xây dựng nguồn lực.
Phóng viên: Chính phủ định hướng đầu tư trọng điểm cho khoa học, công nghệ, phòng thí nghiệm, hạ tầng dùng chung và các nghiên cứu có sản phẩm chuyển giao trực tiếp cho cơ sở giáo dục. Theo Thầy, trường sư phạm cần nghiên cứu những gì?
PGS.TS Võ Văn Minh: Theo tôi, bất cứ vấn đề quan trọng nào đang đặt ra trong xã hội và hệ thống giáo dục đều có thể trở thành vấn đề nghiên cứu của trường sư phạm, đặc biệt là những vấn đề liên quan trực tiếp đến khoa học giáo dục.
Nhưng điều quan trọng là phải thay đổi cách làm. Không nên chỉ bắt đầu từ câu hỏi “chúng ta có thể nghiên cứu gì?”, mà cần bắt đầu từ câu hỏi: Nhà trường, giáo viên, học sinh và hệ thống giáo dục đang gặp vấn đề gì? Sau đó cùng nhận diện vấn đề, cùng nghiên cứu, thử nghiệm, đánh giá và đưa kết quả vào thực tiễn. Khi đó, nghiên cứu khoa học giáo dục không nằm trên giá sách hay trong các báo cáo, mà trở thành tri thức, giải pháp và chính sách có khả năng tạo ra thay đổi thực tế.
Phóng viên: Kết luận 500 yêu cầu các trường sư phạm chủ động tham gia tư vấn, hoạch định chính sách và “hiến kế” cho Chính phủ, Bộ Giáo dục và Đào tạo. Theo Thầy, đây có phải là sự thay đổi vai trò của trường sư phạm?
PGS.TS Võ Văn Minh: Thực ra, các trường đại học sư phạm và các chuyên gia đã tham gia tư vấn chính sách trong nhiều năm qua. Điểm tôi cho rằng cần thay đổi là mức độ và tính hệ thống của sự tham gia.
Đóng góp của các nhà khoa học giáo dục lâu nay phần nhiều dựa trên tinh thần tự nguyện, trách nhiệm nghề nghiệp và tâm huyết cá nhân. Nhưng nếu hệ thống thực sự cần tri thức khoa học để hoạch định chính sách thì cần có cơ chế để tri thức đó được huy động một cách thường xuyên, bài bản và có trách nhiệm.
Khi Nhà nước đặt ra một vấn đề, các trường sư phạm phải có khả năng cung cấp bằng chứng, dữ liệu, phân tích và giải pháp. Ngược lại, khi các trường sư phạm nghiên cứu những vấn đề lớn của giáo dục, kết quả nghiên cứu cần có con đường để đi vào chính sách và thực tiễn.
Khi đó, trường sư phạm không chỉ là nơi đào tạo giáo viên. Trường sư phạm phải trở thành một trung tâm tri thức và giải pháp cho hệ thống giáo dục. Đó không phải là một đặc quyền, mà là một trách nhiệm xã hội.
Và tôi tin rằng khi được đặt đúng vai trò, được giao đúng trách nhiệm và được đầu tư tương xứng, các trường sư phạm hoàn toàn có thể đóng góp nhiều hơn nữa cho sự nghiệp giáo dục của đất nước.
Phóng viên: Trân trọng cảm ơn PGS.TS Võ Văn Minh.