Giáo viên, cán bộ quản lý nào đủ điều kiện tham gia Hội đồng sáng kiến?

01/10/2026 06:48
Nguyễn Hoàng

GDVN - Thực tế, mỗi năm đến dịp xét duyệt chấm và công bố kết quả sáng kiến, không ít ý kiến băn khoăn về năng lực của thành viên tham gia hội đồng sáng kiến.

Hoạt động sáng kiến từ lâu được xem là động lực đổi mới phương pháp giảng dạy và nâng cao chất lượng giáo dục. Người có sáng kiến được công nhận trong ngành giáo dục hiện nay đang hưởng nhiều quyền lợi thiết thực. Theo đó, viên chức giáo dục được ưu tiên nâng bậc lương trước thời hạn, cử đi đào tạo nâng cao trình độ và là tiêu chí quan trọng trong xét tặng danh hiệu thi đua.

Tính đến hết năm học 2025 - 2026, cả nước có 1.277.297 giáo viên mầm non, phổ thông và 98.477 cán bộ quản lý cơ sở giáo dục, trong đó có 1.071.429 giáo viên là viên chức [1], số lượng sáng kiến đăng ký thẩm định hằng năm tại các địa phương là rất lớn. Để tạo ra một sáng kiến chất lượng, giáo viên phải trải qua quá trình vất vả và công phu; song ở chiều ngược lại, công tác chấm duyệt cũng là một trọng trách không kém phần áp lực, bởi phải bảo đảm tính liêm chính học thuật cho từng sáng kiến.

Trong sinh hoạt chuyên môn, không ít ý kiến cho rằng, giáo viên từng có sáng kiến được công nhận thì đương nhiên có đủ năng lực tham gia hội đồng chấm duyệt. Quan điểm này này thoạt nghe có vẻ hợp lý bởi xuất phát từ việc ghi nhận trải nghiệm thực tế. Tuy nhiên, đối chiếu với các quy định pháp lý và yêu cầu quản trị chuyên môn, nhận định này chưa thực sự toàn diện. Người viết là giáo viên cốt cán đã có 9 năm tham gia hội đồng chấm sáng kiến của sở giáo dục và đào tạo địa phương chia sẻ một số căn cứ để giáo viên tham khảo.

sang-kien.jpg
Ảnh minh họa.

Quy định khắt khe về tính mới và lợi ích thiết thực của sáng kiến

Mỗi sáng kiến có điểm số và xếp loại khác nhau dựa trên các tiêu chí nghiêm ngặt. Theo Điều 3 Điều lệ sáng kiến ban hành kèm Nghị định số 13/2012/NĐ-CP và Thông tư số 18/2013/TT-BKHCN hướng dẫn thi hành một số quy định của Điều lệ sáng kiến; một giải pháp được công nhận trong lĩnh vực giáo dục phải thuộc 1 trong 4 nhóm: một là giải pháp kỹ thuật (đổi mới phương tiện, thiết bị dạy học, ứng dụng công cụ hỗ trợ trực quan tự làm phục vụ bài giảng), hai là giải pháp quản lý (các phương thức tổ chức, điều hành hoạt động giáo dục, sắp xếp nhân sự hay đổi mới công tác kiểm tra, giám sát nội bộ), ba là giải pháp tác nghiệp (các phương pháp chuyên môn từ cải cách thủ tục hành chính, đổi mới công tác chủ nhiệm đến phương pháp giảng dạy và đổi mới kiểm tra đánh giá người học), bốn là giải pháp ứng dụng tiến bộ kỹ thuật (đưa các giải pháp khoa học công nghệ vốn có vào thực tiễn quản trị và giảng dạy tại nhà trường).

Dù ở nhóm nào, sáng kiến cũng phải đáp ứng đồng thời 2 tiêu chuẩn bắt buộc được nêu tại Điều 4 Điều lệ sáng kiến:

Thứ nhất, sáng kiến phải có tính mới được nêu tại Khoản 1 Điều 4. Cụ thể như sau: “a) Không trùng với nội dung của giải pháp trong đơn đăng ký sáng kiến nộp trước; b) Chưa bị bộc lộ công khai trong các văn bản, sách báo, tài liệu kỹ thuật đến mức căn cứ vào đó có thể thực hiện ngay được; c) Không trùng với giải pháp của người khác đã được áp dụng hoặc áp dụng thử, hoặc đưa vào kế hoạch áp dụng, phổ biến hoặc chuẩn bị các điều kiện để áp dụng, phổ biến; d) Chưa được quy định thành tiêu chuẩn, quy trình, quy phạm bắt buộc phải thực hiện”.

Thứ hai, khả năng mang lại lợi ích thiết thực được quy định rõ tại Khoản 2 Điều này. Theo đó, “một giải pháp được coi là có khả năng mang lại lợi ích thiết thực nếu việc áp dụng giải pháp đó có khả năng mang lại hiệu quả kinh tế (ví dụ nâng cao năng suất lao động, giảm chi phí sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ, nâng cao hiệu quả kỹ thuật), hoặc lợi ích xã hội (ví dụ nâng cao điều kiện an toàn lao động, cải thiện điều kiện sống, làm việc, bảo vệ môi trường, sức khỏe con người)”. Trong môi trường giáo dục, hiệu quả thiết thực nhất là nâng cao chất lượng tiếp thu của học sinh, đổi mới phương pháp giảng dạy và chủ nhiệm, rút ngắn thời gian xử lý hồ sơ sổ sách.

Để hiện thực hóa các quy định này, Sở Giáo dục và Đào tạo tại nhiều địa phương đều xây dựng thang bảng điểm chi tiết, tổ chức ít nhất 2 giám khảo chấm độc lập. Nếu có chênh lệch điểm số đều phải đối thoại, lập biên bản thống nhất. Đáng chú ý, thành viên hội đồng phải chịu trách nhiệm giải trình trực tiếp nếu để lọt các sáng kiến sao chép, đạo văn. Áp lực bảo vệ tính khách quan và sự công bằng khoa học đặt lên vai người xét duyệt là vô cùng lớn.

Thành viên xét duyệt sáng kiến phải có năng lực chuyên biệt

Từ quy trình chặt chẽ nêu trên, có thể thấy viết được sáng kiến và thẩm định sáng kiến là 2 phạm trù hoàn toàn khác biệt.

Người viết sáng kiến thể hiện sự sáng tạo trong một phạm vi hẹp như: một đơn vị bài học, một chuyên đề bộ môn hoặc một nhóm đối tượng học sinh cụ thể. Ngược lại, thành viên trong Hội đồng xét duyệt yêu cầu một năng lực rộng hơn rất nhiều. Điều 8 Thông tư số 18/2013/TT-BKHCN quy định người xét duyệt sáng kiến phải là “những người có trình độ chuyên môn sâu về lĩnh vực có liên quan”, làm việc độc lập và bảo mật thông tin.

Hơn nữa, giám khảo phải có năng lực giỏi về phương pháp dạy học bộ môn, đồng thời phải bao quát toàn bộ mạch kiến thức của Chương trình Giáo dục phổ thông. Ngoài ra, họ còn phải nắm vững hành lang pháp lý về sở hữu trí tuệ, có kỹ năng tra cứu, đối sánh chéo các nguồn dữ liệu số để nhận diện sáng kiến có thực chất hay sao chép. Công việc này đòi hỏi tinh thần trách nhiệm cao, bản lĩnh và tính độc lập để tránh tâm lý nể nang, cào bằng.

Do đó, việc các cơ quan quản lý tuyển chọn giáo viên có trình độ chuyên môn vững vàng, am hiểu văn bản pháp quy và uy tín nghề nghiệp vào Hội đồng xét duyệt sáng kiến không phải là tạo ra khoảng cách, mà đó chính là bảo vệ sự công bằng đối với công sức, trí tuệ của thầy cô. Khi người chấm có đủ tầm thẩm định và tâm thế liêm chính thì kết quả đánh giá mới thực sự thuyết phục, tạo điểm tựa để phong trào sáng kiến trong nhà trường đi vào thực chất.

Tài liệu tham khảo:

[1] https://giaoduc.net.vn/nam-hoc-2026-2027-ty-le-xet-chien-si-thi-dua-co-so-do-co-sang-kien-khong-qua-10-post263029.gd

(*) Văn phong, nội dung bài viết thể hiện góc nhìn, quan điểm của tác giả.

​

​

Nguyễn Hoàng