Bộ Giáo dục và Đào tạo đã công bố Báo cáo kết quả giáo dục đại học năm học 2025-2026. Báo cáo cho thấy giáo dục đại học có nhiều chuyển biến, từ cơ cấu tuyển sinh giữa các nhóm ngành, cơ cấu trình độ đào tạo, chất lượng đội ngũ giảng viên và hoạt động công bố khoa học đến vị thế của các cơ sở giáo dục đại học Việt Nam trên các bảng xếp hạng quốc tế và điều kiện cơ sở vật chất.
Tuyển sinh STEM có chuyển biến tích cực
Một trong những điểm nổi trội trong tuyển sinh năm 2026 của hệ thống giáo dục đại học là sự dịch chuyển mạnh mẽ ở nhóm ngành STEM.
Theo báo cáo, toàn hệ thống có 2.319 lượt ngành STEM, tăng 14,8% so với năm 2025. Số thí sinh trúng tuyển STEM đạt 241.929, tăng 1,7% so với năm trước. Tỷ lệ trúng tuyển và nhập học của nhóm STEM cũng vượt 33%.
Đối với nhóm khoa học cơ bản, quy mô, tỷ lệ nhập học và điểm chuẩn trung vị đều tăng. Điểm chuẩn trung vị của nhóm này trong năm 2026 đạt khoảng 22 điểm.
Ở năm nhóm ngành chuyên sâu ưu tiên, số lượt ngành và số thí sinh trúng tuyển đều tăng. Trí tuệ nhân tạo tăng 46% về lượt ngành và 30,4% về số trúng tuyển; đường sắt tăng lần lượt 26,1% và 34,3%; điện hạt nhân tăng 42,9% và 60,1%.
Bộ Giáo dục và Đào tạo thông tin, có 22.909 người thuộc khóa tuyển sinh năm 2026 nhận học bổng Chính phủ, tăng so với 21.309 người của khóa tuyển sinh năm 2025. Toàn bộ thí sinh đăng ký xét tuyển và nhập học trực tuyến.
Tuy nhiên, việc số lượt ngành tăng nhanh hơn số người trúng tuyển ở một số nhóm cũng đặt ra vấn đề về khả năng thu hút người học. Bởi, việc mở thêm ngành đào tạo chưa đồng nghĩa với việc hình thành nhu cầu tương ứng. Vì vậy, cùng với phát triển quy mô, các cơ sở giáo dục đại học cần quan tâm đến chất lượng chương trình, năng lực giảng dạy và khả năng gắn đào tạo với việc làm.
Hệ quả nào nếu số người học trên một giảng viên cơ hữu tiếp tục tăng mạnh?
Báo cáo cũng cho thấy, năm học 2025-2026, đội ngũ giảng viên của hệ thống giáo dục đại học Việt Nam tiếp tục có sự cải thiện về cả số lượng và trình độ.
Theo đó, tỷ lệ giảng viên có trình độ tiến sĩ tăng từ 32,6% ( năm học 2023-2024) lên 34,4% ( năm học 2024-2025) và đạt 36,3% vào năm học 2025-2026. Về số người học trên một giảng viên cơ hữu cũng tăng từ 24,3 (năm học 2024-2025) lên 30,1 (năm học 2025-2026).
Có thể thấy rằng, tỷ lệ số người học trên mỗi giảng viên cơ hữu đang có xu hướng tăng liên tục qua các năm.
Dù hiện tại chỉ số này vẫn nằm trong giới hạn cho phép, song xu hướng tăng này đã phần nào cho thấy áp lực giảng dạy và khối lượng công việc đặt lên vai mỗi giảng viên cơ hữu đã gia tăng đáng kể so với giai đoạn trước
Về số lượng, số giảng viên hệ thống giáo dục đại học nước ta đang có xu hướng tăng trong 5 năm gần đây; từ 78.563 người (năm 2022) lên 92.275 người (năm 2026,) tương đương tăng 17,5%.
Xét theo mức tăng năm 2026 so với năm 2022, số giảng viên có học hàm giáo sư tăng 14,7%, từ 760 người lên 872 người; số giảng viên có học hàm phó giáo sư tăng 28,2%, tức tăng từ 5.331 người lên 6.833 người; số lượng giảng viên có trình độ tiến sĩ cũng tăng 39,1%, từ 21.170 người lên 29.454 người.
Tính bình quân toàn hệ thống, tỷ lệ giảng viên có trình độ tiến sĩ đã vượt ngưỡng chuẩn (20-30%). Tuy nhiên, tỉ lệ giảng viên có trình độ tiến sĩ giữa các cơ sở giáo dục đại học vẫn chưa đồng đều.
Có thể thấy, bên cạnh việc tăng số lượng giảng viên có trình độ cao, vấn đề phân bổ đội ngũ, năng lực chuyên môn và giảng dạy cũng cần được quan tâm.
Như vậy, những con số trong tuyển sinh và đội ngũ giảng viên cho thấy giáo dục đại học đang có những chuyển dịch theo hướng tăng quy mô đào tạo các lĩnh vực STEM, đồng thời nâng dần chất lượng nguồn nhân lực giảng dạy. Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng giữa các nhóm ngành và giữa các cơ sở giáo dục đại học vẫn có sự khác biệt; quy mô người học với số lượng giảng viên cơ hữu đứng trước thách thức thiếu sự phù hợp. Bối cảnh đó đã đặt ra yêu cầu về việc mở rộng quy mô tuyển sinh/gia tăng số lượng giảng viên trình độ tiến sĩ cần đi cùng yêu cầu nâng cao chất lượng đào tạo.