Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Chương trình hành động về tăng cường kỷ cương; xây dựng văn hóa trung thực, liêm chính và thực chất trong các hoạt động giáo dục, triển khai từ năm học 2026-2027.
Chương trình được xây dựng sau một năm triển khai Nghị quyết 71-NQ/TW về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo, trong bối cảnh yêu cầu nâng cao chất lượng giáo dục gắn với kỷ cương, trách nhiệm, trung thực, liêm chính và thực chất ngày càng được đặt ra rõ hơn.
Chương trình đặt mục tiêu xây dựng môi trường giáo dục kỷ cương, trung thực, liêm chính, nhân văn, thực chất, an toàn, lành mạnh, dân chủ và lấy người học làm trung tâm; đồng thời đổi mới quản lý theo hướng quản trị phát triển, tăng cường công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình.
Một yêu cầu xuyên suốt là thực hiện "dạy thật, học thật, thi thật, đánh giá thật". Các cơ sở giáo dục phải bảo đảm việc dạy học, kiểm tra, đánh giá, thi cử, tuyển sinh và kiểm định chất lượng phản ánh đúng năng lực, phẩm chất người học, không chạy theo thành tích hoặc đánh đổi chất lượng thực chất lấy chỉ tiêu hình thức.
Thực tế, áp lực kiểm tra, đánh giá khiến không ít học sinh phải học thêm, luyện đề để đáp ứng yêu cầu khác nhau của từng giáo viên, nhà trường. Tình trạng này dễ dẫn đến học tủ, học lệch, học để đối phó với bài kiểm tra thay vì chú trọng hiểu và vận dụng kiến thức.
Trong khi đó, giáo viên cũng phải dành nhiều thời gian, công sức xây dựng ma trận, biên soạn và thẩm định câu hỏi cho từng bài kiểm tra. Việc xây dựng ngân hàng câu hỏi dùng chung trên phạm vi cả nước được kỳ vọng góp phần chuẩn hóa yêu cầu đánh giá, giảm áp lực ra đề cho giáo viên, đồng thời hạn chế tình trạng học tủ, học lệch và giúp học sinh tập trung hơn vào việc hiểu, vận dụng kiến thức.
Cần chuẩn đánh giá, phần mềm và cơ chế vận hành đồng bộ
Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, từ góc độ kiểm định chất lượng giáo dục, PGS.TS Nguyễn Thị Lan Phương - Kiểm định viên Trung tâm Kiểm định chất lượng giáo dục Thăng Long cho rằng cần phân biệt rõ giữa “ngân hàng câu hỏi” và “ngân hàng đề thi” khi xây dựng hệ thống dùng chung trên phạm vi cả nước.
Theo bà, ngân hàng câu hỏi - tiếng Anh là Item Bank (IB) không đơn thuần là nơi tập hợp các câu hỏi hay lưu trữ đề thi trên máy tính, mà là hệ thống quản lý số lượng lớn câu hỏi đã được định cỡ theo các thông số như độ khó, độ phân biệt, độ đoán mò... Qua đó, hệ thống có thể lựa chọn, kết hợp câu hỏi để tạo các đề thi có độ khó tương đương hoặc phù hợp với trình độ nhận thức của thí sinh, đồng thời bảo đảm đo lường các yêu cầu cần đạt của chương trình.
PGS.TS Nguyễn Thị Lan Phương cho rằng, để hạn chế tính chủ quan trong xây dựng đề, cần có khung đánh giá năng lực và nguyên tắc thiết lập ma trận đề ở cấp Trung ương. Đây sẽ là căn cứ để các địa phương xây dựng ma trận và thiết kế câu hỏi phù hợp, thay vì chỉ dựa vào nhận định của người ra đề.
Nếu triển khai Item Bank dùng chung, theo bà, cũng cần làm rõ phần mềm quản lý và cơ chế vận hành. Hệ thống phải quản lý được các đặc tính của câu hỏi như môn học, lớp, chủ đề, yêu cầu cần đạt, năng lực đặc thù, dạng nhiệm vụ, độ khó, độ phân biệt, thời gian thực hiện...; đồng thời có khả năng tạo nhiều đề thi tương đương và từng bước hướng tới việc lựa chọn câu hỏi phù hợp với năng lực của từng thí sinh.
Một vấn đề khác là phân quyền khai thác và quản lý. Cần xác định rõ Bộ Giáo dục và Đào tạo, Sở Giáo dục và Đào tạo, nhà trường và giáo viên được thực hiện những chức năng nào, từ xây dựng, thẩm định, định cỡ, cập nhật, bảo mật đến khai thác và tạo đề.
“Bài toán về ngân hàng câu hỏi dùng chung không chỉ là xây dựng một kho câu hỏi lớn, mà phải đồng bộ từ chuẩn đánh giá, chất lượng câu hỏi, phần mềm quản lý đến cơ chế khai thác”, PGS.TS Nguyễn Thị Lan Phương nhấn mạnh.
Giáo viên có thể giảm áp lực ra đề
Từ thực tế nhà trường, cô Nguyễn Thị Giang Hậu - Hiệu trưởng Trường Tiểu học và Trung học cơ sở Minh Châu (Vân Đồn, Quảng Ninh) cho rằng ngân hàng câu hỏi dùng chung trên phạm vi cả nước có thể mang lại nhiều lợi ích, trước hết là giảm tải cho giáo viên trong công tác xây dựng đề kiểm tra, đồng thời tạo nguồn đề tham khảo phục vụ dạy học và đánh giá học sinh.
Theo cô Hậu, hiện nay với mỗi đợt kiểm tra, giáo viên cùng khối, cùng môn có thể phải xây dựng nhiều đề, sau đó tổ chuyên môn và Ban Giám hiệu thẩm định, lựa chọn. Riêng quá trình xây dựng đề kiểm tra ở trường có thể kéo dài 3-4 ngày, thậm chí gần một tuần tùy môn học và số lượng đề.
“Nếu Bộ Giáo dục và Đào tạo xây dựng được một ngân hàng đề để các trường có thể sử dụng thì sẽ tiết kiệm được thời gian cho cả giáo viên và công tác quản lý nhà trường”, cô Hậu nhận định.
Tuy nhiên, cô Hậu cho rằng ngân hàng câu hỏi không nên chỉ do một đơn vị hoặc một nhóm giáo viên nhất định xây dựng. Giáo viên từ nhiều địa phương, vùng miền và các cấp học cần được tham gia để câu hỏi đa dạng, sát thực tế hơn. Nếu chỉ tập trung vào một vài đơn vị hoặc nhóm giáo viên cốt cán, ngân hàng câu hỏi có thể thiếu sự phong phú về góc nhìn và chưa phản ánh đầy đủ điều kiện giáo dục ở từng địa phương.
Bên cạnh đó, theo cô Hậu, ngay cả khi có ngân hàng câu hỏi dùng chung, các nhà trường vẫn nên duy trì hoạt động xây dựng ngân hàng câu hỏi và đề kiểm tra nội bộ. Bởi việc giáo viên trực tiếp xây dựng câu hỏi, sau đó được tổ chuyên môn và Ban Giám hiệu góp ý, thẩm định không chỉ phục vụ kiểm tra học sinh mà còn là quá trình giúp giáo viên rèn luyện kỹ năng ra đề, phát triển chuyên môn và chia sẻ kinh nghiệm.
Học sinh vùng miền cần được tính đến
Một trong những vấn đề được cô Hậu đặc biệt lưu ý là sự khác biệt về đối tượng học sinh.
“Ở thành thị, vùng thành phố, đối tượng học sinh có những đặc điểm khác so với học sinh ở khu vực biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa. Vì vậy, khi xây dựng ngân hàng câu hỏi cũng cần có sự đa dạng về dạng đề và mức độ phân hóa”, cô Hậu chia sẻ.
Theo cô, một ngân hàng câu hỏi được xây dựng khoa học, công khai về định hướng và đa dạng về mức độ có thể trở thành nguồn tài liệu tham khảo hữu ích. Học sinh và phụ huynh có thêm cơ sở để định hướng ôn tập, qua đó góp phần giảm áp lực học tập và hạn chế sự phụ thuộc vào học thêm, luyện đề bên ngoài.
Đặc biệt, tại địa bàn hải đảo như Minh Châu, điều kiện tiếp cận các trung tâm học thêm của học sinh còn hạn chế. Vì vậy, nguồn học liệu và câu hỏi tham khảo được cung cấp thống nhất, phù hợp với chương trình sẽ có ý nghĩa thiết thực đối với học sinh.
Từ thực tế tại Trường Tiểu học - Trung học cơ sở Nguyễn Trung Trực (Đặc khu Phú Quốc, An Giang), thầy Nguyễn Anh Khoa - Hiệu trưởng nhà trường cũng cho rằng cần tính đến sự khác biệt về điều kiện giáo dục và năng lực học sinh giữa các địa phương khi xây dựng ngân hàng câu hỏi dùng chung.
Theo thầy Khoa, từ năm học 2025-2026, nhà trường thực hiện xây dựng đề kiểm tra theo hướng dẫn về cấu trúc, ma trận đề đối với các kỳ kiểm tra giữa kỳ, cuối kỳ của Sở Giáo dục và Đào tạo. Ma trận được xây dựng theo các mức độ nhận biết, thông hiểu và vận dụng. Chẳng hạn, một cấu trúc có thể phân bổ 50% nhận biết, 30% thông hiểu và 20% vận dụng; trong phần vận dụng có thể tiếp tục phân hóa thành vận dụng và vận dụng cao, tùy từng môn học.
Các đề kiểm tra tại trường được xây dựng trên cùng một ma trận nhưng không sử dụng một đề duy nhất cho toàn trường. Các đề được trộn bằng máy tính, học sinh trong cùng khối được sắp xếp lại khi kiểm tra nhằm hạn chế trao đổi bài và giúp kết quả phản ánh sát hơn năng lực từng em.
Theo thầy Khoa, thời gian đầu triển khai, một số phụ huynh phản ánh điểm số của học sinh thấp hơn trước. Nhà trường đã giải thích rằng mục tiêu của cách kiểm tra này là giúp học sinh hình thành ý thức tự học, thay vì học theo kiểu ghi nhớ hoặc ôn tập theo những nội dung dự đoán trước.
Sau thời gian làm quen, học sinh dần thích nghi và chủ động hơn trong học tập, kiểm tra. Từ thực tế này, thầy Khoa cho rằng có thể thống nhất một khung ngân hàng câu hỏi ở cấp trên, nhưng việc cụ thể hóa câu hỏi cần để địa phương, nhà trường và giáo viên căn cứ vào năng lực học sinh.
“Khung ngân hàng câu hỏi là cấp trên đưa xuống để thống nhất. Còn từng câu hỏi, từng nội dung cụ thể cần được địa phương xây dựng dựa trên năng lực học sinh và điều kiện thực tế của mình”, thầy Khoa nhấn mạnh.
Địa phương vùng cao cần ngân hàng câu hỏi có độ mở
Tại Trường Phổ thông Dân tộc bán trú Tiểu học và Trung học cơ sở Thượng Phùng, Tuyên Quang, thầy Nguyễn Mạnh Sơn - Hiệu trưởng nhà trường cho rằng nếu được xây dựng bài bản, ngân hàng câu hỏi dùng chung sẽ trở thành nguồn dữ liệu lớn để các nhà trường khai thác, lựa chọn và phục vụ kiểm tra, đánh giá học sinh.
Theo thầy Sơn, ngân hàng câu hỏi có thể giúp câu hỏi kiểm tra đa dạng hơn, đồng thời hỗ trợ giáo viên tiết kiệm thời gian xây dựng đề. Tuy nhiên, điều quan trọng là phải tính đến đặc thù học sinh vùng cao.
“Đối với đặc thù vùng cao, điều kiện kinh tế - xã hội còn nhiều khó khăn, học sinh còn hạn chế về kiến thức so với học sinh ở những khu vực có điều kiện thuận lợi. Vì vậy, việc phân hóa câu hỏi phải phù hợp với từng vùng miền, thậm chí cần có mức độ phân hóa sâu hơn”, thầy Sơn chia sẻ.
Theo thầy, nếu áp dụng một ma trận với yêu cầu và mức độ khó giống nhau cho tất cả học sinh trên cả nước, việc đánh giá có thể chưa phản ánh sát năng lực của học sinh ở những địa bàn còn nhiều khó khăn. Vì vậy, ngân hàng câu hỏi nên có khung chung nhưng cho phép giáo viên lựa chọn câu hỏi phù hợp với đặc điểm học sinh và điều kiện giáo dục của từng địa phương.
Về cách thức xây dựng, thầy Sơn cho rằng không nên chỉ tập trung vào một nhóm chuyên gia hoặc giáo viên cốt cán ở cấp trên. Có thể phát huy vai trò của giáo viên tại các cơ sở giáo dục, cụm chuyên môn và đội ngũ giáo viên cốt cán ở từng địa phương.
“Việc này diễn ra trực tiếp tại các cơ sở giáo dục. Các tỉnh cũng đã thành lập các cụm chuyên môn, tổ cốt cán. Theo tôi, có thể lựa chọn giáo viên cốt cán tham gia xây dựng ngân hàng câu hỏi ở cấp cụm, sau đó từ các cụm tiếp tục xây dựng và đóng góp cho ngân hàng câu hỏi ở cấp Sở”, thầy Sơn đề xuất.
Cách làm này, theo thầy Sơn, vừa tận dụng được kinh nghiệm của giáo viên trực tiếp giảng dạy, vừa giúp câu hỏi sát hơn với thực tế học sinh ở từng địa bàn.
Thầy Sơn cũng cho rằng khi giáo viên truy cập ngân hàng câu hỏi chung, hệ thống nên cho phép lựa chọn câu hỏi theo đặc điểm của địa phương và cơ sở giáo dục.
“Nếu có một định hướng mở cho các vùng, các cơ sở giáo dục và địa phương thì sẽ phù hợp hơn. Bởi ngay trong một địa bàn rộng như Tuyên Quang hay khu vực Hà Giang trước đây, điều kiện giáo dục giữa các địa phương cũng có sự khác biệt”, thầy Sơn nhận định.