Nghị định 368/2026/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Thi đua, khen thưởng có hiệu lực từ 1/10/2026. Theo đó, khống chế “không quá 10% trong tổng số cá nhân đạt tiêu chuẩn danh hiệu “Lao động tiên tiến” hoặc danh hiệu “Chiến sĩ tiên tiến” (không bao gồm cá nhân được xét tặng danh hiệu Chiến sĩ thi đua cơ sở do hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ).
Việc khống chế này khá phù hợp vì sẽ tránh được việc công nhận sáng kiến kinh nghiệm quá nhiều ở một số địa phương ở những năm vừa qua để nhằm mục đích xét danh hiệu Chiến sĩ thi đua cơ sở. Một khi sáng kiến kinh nghiệm đạt giải không còn đồng nghĩa sẽ được xét danh hiệu Chiến sĩ thi đua cơ sở sẽ giúp cho công tác thi đua khen thưởng cuối năm thực chất hơn. Người đạt các danh hiệu cao cũng xứng đáng hơn.
Quy định 10% tạo sự thống nhất trong công tác thi đua
Ba năm vừa qua, thực hiện theo Luật Thi đua, khen thưởng năm 2022 đã tạo ra một kẽ hở trong xét thi đua. Không chỉ danh hiệu Chiến sĩ thi đua cơ sở nhiều mà các danh hiệu, hình thức khen thưởng khác cũng cao đột biến.
Đó là tình trạng viết sáng kiến ở các trường học khá nhiều. Đối với các trường mầm non đến trung học cơ sở do cấp xã, phường chấm mà thực chất là hiệu trưởng, phó hiệu trưởng các trường trên địa bàn chấm chéo cho nhau nên xảy ra nhiều bất cập.
Số lượng sáng kiến, giải pháp được công nhận giải nhiều. Cuối năm học khi đánh giá, xếp loại viên chức; xét danh hiệu thi đua thì phần nhiều những cá nhân khi có sáng kiến đạt giải mới được xét loại viên chức hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ vì có thêm thành tích.
Thế nhưng, khi được xét hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ thì họ xét danh hiệu Chiến sĩ thi đua cơ sở theo xếp loại viên chức. Còn sáng kiến để dành nhằm xét Chiến sĩ thi đua cấp tỉnh hoặc Bằng khen của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, hoặc Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ…
Từ đó, trong từng đơn vị trường học, có nhiều cá nhân đạt danh hiệu thi đua và hình thức thi đua. Tất nhiên, tiền từ ngân sách chi cho khen thưởng cũng nhiều hơn. Nhưng, bất cập cũng nhiều hơn.
Ngày 25 tháng 9 năm 2026 vừa qua, Chính phủ ban hành Nghị định 368/2026/NĐ-CP Quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Thi đua, khen thưởng. Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 10 năm 2026.
Theo hướng dẫn tại Điều 5, Nghị định 368/2026/NĐ-CP đã hướng dẫn tỷ lệ xét tặng danh hiệu “Chiến sĩ thi đua cơ sở” theo quy định tại điểm b, c và d khoản 1 Điều 23 Luật Thi đua, khen thưởng, không quá 10% trong tổng số cá nhân đạt tiêu chuẩn danh hiệu “Lao động tiên tiến” hoặc danh hiệu “Chiến sĩ tiên tiến” (không bao gồm cá nhân được xét tặng danh hiệu “Chiến sĩ thi đua cơ sở” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 23 Luật Thi đua, khen thưởng).
Trong khi, tại Điều 23, Luật số 06/2026/QH16 sửa đổi, bổ sung một số điều của luật thi đua, khen thưởng có hiệu lực từ 01/10/2026 quy định tiêu chí để xét danh hiệu Chiến sĩ thi đua cơ sở như sau:
1. Danh hiệu “Chiến sĩ thi đua cơ sở” để tặng cho cá nhân đạt một trong các tiêu chuẩn sau đây:
a) Được đánh giá hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ;
b) Đạt tiêu chuẩn danh hiệu “Lao động tiên tiến” hoặc “Chiến sĩ tiên tiến” và có sáng kiến được cơ sở công nhận;
c) Đạt tiêu chuẩn danh hiệu “Lao động tiên tiến” hoặc “Chiến sĩ tiên tiến” và có nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo được đánh giá hiệu quả theo quy định của pháp luật về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo;
d) Đạt tiêu chuẩn danh hiệu “Lao động tiên tiến” hoặc “Chiến sĩ tiên tiến” và mưu trí, sáng tạo trong chiến đấu, phục vụ chiến đấu được đơn vị công nhận.
Như vậy, những cá nhân được đánh giá hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ thì đương nhiên được xét danh hiệu Chiến sĩ thi đua cơ sở.
Những cá nhân đạt danh hiệu “Lao động tiên tiến” hoặc danh hiệu “Chiến sĩ tiên tiến có sáng kiến kinh nghiệm, hoặc có nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo thì chỉ được xét 10% cho danh hiệu Chiến sĩ thi đua cơ sở. Quy định tỷ lệ không quá 10% tạo ra một ngưỡng kiểm soát cần thiết, giúp các đơn vị thận trọng hơn trong việc công nhận, lựa chọn và đề nghị danh hiệu.
Mục tiêu không phải là hạn chế giáo viên viết sáng kiến kinh nghiệm, viết cải tiến mà để bảo đảm rằng danh hiệu Chiến sĩ thi đua cơ sở thực sự dành cho những cá nhân có thành tích nổi bật.
Quy định 10% góp phần hạn chế bệnh thành tích trong thi đua
Nếu số lượng danh hiệu Chiến sĩ thi đua cơ sở không được khống chế tỉ lệ, áp lực thành tích có thể chuyển từ làm tốt công việc sang viết một vài sáng kiến để đạt danh hiệu.
Đặc biệt, đối với sáng kiến, nếu việc công nhận quá dễ dàng thì có thể xuất hiện tình trạng sáng kiến được xây dựng chủ yếu để phục vụ xét thi đua, trong khi hiệu quả áp dụng thực tế chưa rõ ràng.
Khi đó, một giáo viên có thể dành nhiều thời gian viết sáng kiến nhưng chưa chắc dành tương ứng thời gian để kiểm chứng xem giải pháp đó có thực sự giải quyết được vấn đề trong thực tế hay không.
Trong hoạt động chuyên môn, không phải sáng kiến nào cũng có giá trị như nhau.
Có sáng kiến chỉ giải quyết một vấn đề rất nhỏ trong phạm vi cá nhân.
Có sáng kiến được áp dụng trong tổ chuyên môn. Có sáng kiến có thể áp dụng ở phạm vi toàn trường. Thậm chí có những giải pháp có khả năng nhân rộng ở nhiều trường hoặc toàn ngành. Nếu tất cả đều được xem xét như nhau thì rất khó phân biệt mức độ đóng góp.
Việc giới hạn số lượng người được xét theo diện sáng kiến tạo điều kiện để hội đồng thi đua tập trung đánh giá sâu hơn chất lượng của từng sáng kiến.
Thay vì công nhận hàng loạt, chúng ta có thể đặt câu hỏi: Sáng kiến giải quyết vấn đề gì? Vấn đề đó có thực sự tồn tại trong thực tiễn không? Giải pháp có tính mới hay chỉ là cách làm thông thường? Có được áp dụng thực tế không? Hiệu quả được chứng minh như thế nào? Có khả năng nhân rộng hay không?
Chính vì thế, quy định tỉ lệ xét Chiến sĩ thi đua cơ sở do có sáng kiến không quá 10% theo điểm b, c và d khoản 1 Điều 23 Luật Thi đua, khen thưởng là phù hợp với yêu cầu thực tế.
Đây là một công cụ cần thiết để bảo đảm tính chọn lọc của danh hiệu, hạn chế việc công nhận tràn lan, góp phần giảm bệnh thành tích và giảm tâm lý chạy đua hồ sơ trong các cơ quan, đơn vị, đặc biệt là trong ngành giáo dục.
(*) Văn phong, nội dung bài viết thể hiện góc nhìn, quan điểm của tác giả.