Vì sao còn tình trạng một số trường yêu cầu giáo viên làm kế hoạch giáo dục và dự giờ theo định mức?

07/10/2026 06:45
NGUYỄN NGUYÊN

GDVN - Một nhà trường tiến bộ là nơi giáo viên được tin tưởng, được trao quyền, được hỗ trợ chuyên môn và được đánh giá bằng hiệu quả thực chất.

Trong quá trình thực hiện đổi mới giáo dục hiện nay, một trong những yêu cầu quan trọng là phát huy tính chủ động, sáng tạo và trách nhiệm nghề nghiệp của đội ngũ giáo viên tại các trường học.

Tuy nhiên, trên thực tế, tại một số cơ sở giáo dục vẫn còn tình trạng yêu cầu giáo viên thực hiện kế hoạch giáo dục theo những biểu mẫu cứng nhắc, hoặc quy định số lượng tiết dự giờ, thao giảng theo định mức/ năm.

Trong khi, Thông tư 15/2026/TT-BGDĐT ban hành Điều lệ trường tiểu học, trường trung học cơ sở, trường trung học phổ thông, trường phổ thông có nhiều cấp học có hiệu lực từ 10/5/2026, không còn yêu cầu giáo viên phổ thông phải thực hiện kế hoạch giáo dục và sổ dự giờ như những năm học trước đây. Việc này nhằm giảm áp lực hành chính và tăng quyền chủ động chuyên môn cho giáo viên.

image-1.jpg
Ảnh minh họa

Giáo dục sẽ khó đổi mới khi ban giám hiệu nhà trường còn nặng tâm lý quản lý bằng hồ sơ

Theo hướng dẫn của Thông tư 15/2026/TT-BGDĐT hiện nay, nếu giáo viên không kiêm nhiệm chức vụ, không phải là giáo viên chủ nhiệm chỉ còn 01 loại hồ sơ duy nhất là kế hoạch bài dạy (giáo án) nhưng thực tế tại một số trường học lại không phải vậy.

Ban giám hiệu nhà trường vẫn yêu cầu giáo viên làm kế hoạch giáo dục; giáo viên vẫn phải dạy cho đồng nghiệp dự giờ và dự giờ đồng nghiệp theo định mức như những năm học trước đây. Xảy ra tình trạng này vẫn là điều băn khoăn cho nhiều giáo viên. Theo quan điểm người viết bài, có một số nguyên nhân chủ yếu sau:

Thứ nhất: do cách quản lý của một số ban giám hiệu còn nặng về quản lý hành chính. Một bộ phận cán bộ quản lý vẫn có tâm lý cho rằng muốn quản lý tốt thì phải có con số cụ thể. Mỗi giáo viên phải làm bao nhiêu kế hoạch, dự bao nhiêu tiết, thao giảng bao nhiêu lần, hoàn thành bao nhiêu loại hồ sơ.

Cách quản lý này có ưu điểm là dễ kiểm tra, dễ thống kê và dễ báo cáo. Tuy nhiên, hạn chế là số lượng không đồng nghĩa với chất lượng.

Một giáo viên có thể dự rất nhiều tiết nhưng nếu chỉ dự cho đủ số lượng, thiếu trao đổi chuyên môn sau tiết dạy thì hiệu quả rất thấp mà gây ra áp lực cho cả người dạy và người dự giờ.

Ngược lại, một buổi dự giờ được chuẩn bị kỹ, tập trung vào một vấn đề chuyên môn cụ thể, có phân tích, trao đổi và rút kinh nghiệm, có thể mang lại giá trị lớn hơn nhiều lần việc dự giờ chỉ để hoàn thành “định mức”.

Tương tự, kế hoạch giáo dục là công cụ để giáo viên chủ động tổ chức dạy học, chứ không nên trở thành một loại hồ sơ mang tính hình thức mà giáo viên phải làm để “đủ giấy tờ”.

Trong thực tế, kế hoạch giáo dục của giáo viên hiện nay cũng chỉ có phân phối chương trình (tên bài học, số tiết, thời điểm, thiết bị dạy học, địa điểm dạy học) và một số nhiệm vụ khác theo hướng dẫn ở phụ lục III của Công văn 5512 mà thôi.

Những nội dung này đã có phân phối chương trình của tổ chuyên môn; thời gian có trên thời khóa biểu; địa điểm thì có lớp học cụ thể; thiết bị dạy học có trong giáo án và phần mềm thiết bị Misa mà giáo viên mượn hằng ngày.

Thứ hai: tâm lý quản lý bằng hồ sơ vẫn còn phổ biến của một số trường học bởi khi kiểm tra một tổ chuyên môn, giáo viên, việc nhìn vào hồ sơ thường dễ dàng hơn việc đánh giá chiều sâu của hoạt động dạy học. Chính vì vậy, ở một số nơi xuất hiện tâm lý “phải có hồ sơ thì mới chứng minh được công việc đã làm”.

Từ đó, những yêu cầu về kế hoạch, biên bản, phiếu dự giờ, số lượng tiết thao giảng… có thể ngày càng nhiều hơn. Giáo viên mất thời gian hoàn thiện hồ sơ, trong khi thời gian dành cho nghiên cứu bài học, chuẩn bị phương án dạy học phù hợp với học sinh và tự học, tự bồi dưỡng lại bị thu hẹp.

Nếu quản lý chuyên môn chỉ chú trọng vào việc “có làm hay không” mà chưa quan tâm đầy đủ đến “làm có hiệu quả hay không” thì rất dễ dẫn đến bệnh hình thức.

Thứ ba: một số ban giám hiệu nhà trường chưa phân biệt rõ giữa yêu cầu chuyên môn và “định mức hành chính”. Bởi lẽ, dự giờ là một hoạt động chuyên môn cần thiết. Giáo viên dự giờ đồng nghiệp để học hỏi phương pháp, quan sát cách tổ chức lớp học, cách xử lý tình huống và cùng nhau cải tiến hoạt động dạy học.

Tuy nhiên, dự giờ có ý nghĩa khi xuất phát từ nhu cầu chuyên môn và hướng đến sự phát triển nghề nghiệp, chứ không đơn thuần là hoàn thành một con số.

Tương tự, xây dựng kế hoạch giáo dục là nhiệm vụ cần thiết. Nhưng kế hoạch cần phục vụ cho hoạt động dạy học, giúp giáo viên chủ động điều chỉnh nội dung, phương pháp và tiến độ phù hợp với thực tế học sinh.

Nếu kế hoạch được làm quá chi tiết, nhiều biểu mẫu hoặc yêu cầu lặp lại những nội dung đã có trong các hồ sơ khác thì sẽ biến một công cụ chuyên môn thành gánh nặng hành chính.

Thứ tư: sợ áp lực kiểm tra, đánh giá của cấp trên khiến cho một số ban giám hiệu có tâm lý “làm cho chắc”.

Chẳng hạn, Thông tư 15/2026/TT-BGDĐT không yêu cầu giáo viên xây dựng kế hoạch giáo dục không quy định cứng số lần dự giờ nhưng một số đơn vị có thể tự đặt ra cho giáo viên là phải làm kế hoạch giáo dục và quy định số tiết cụ thể để thuận tiện kiểm tra.

Về mặt quản lý, cách làm này có thể xuất phát từ mong muốn bảo đảm hoạt động chuyên môn được duy trì. Nhưng xét về cơ sở pháp lý sẽ không đúng và rất dễ trở thành áp lực đối với giáo viên.

Một số giải pháp khắc phục

Theo quan điểm người viết bài, để làm đúng và giảm áp lực cho giáo viên thì trước hết ban giám hiệu nhà trường phải căn cứ vào các văn bản còn hiệu lực, cần chuyển từ quản lý theo số lượng sang quản lý theo chất lượng và hiệu quả.

Đối với kế hoạch giáo dục, cần tạo điều kiện để giáo viên thực sự được chủ động trong phạm vi chuyên môn của mình. Nhà trường nên thống nhất những nội dung cốt lõi cần có, tránh yêu cầu giáo viên lập nhiều loại kế hoạch trùng lặp.

Đối với dự giờ, cần xác định rõ mục đích là học hỏi, chia sẻ và cải tiến chuyên môn, không phải để chấm điểm hay chạy theo số lượng. Có thể tổ chức dự giờ theo nhu cầu, theo chuyên đề, theo nghiên cứu bài học hoặc theo những vấn đề thực tế mà tổ chuyên môn đang cần giải quyết.

Quan trọng hơn, tổ chuyên môn cần trở thành không gian trao đổi nghề nghiệp thực chất. Sau một tiết dạy, thay vì chỉ nhận xét “ưu điểm, hạn chế” theo mẫu, giáo viên nên cùng nhau phân tích: học sinh đã học được gì, chỗ nào học sinh gặp khó khăn, phương pháp nào hiệu quả, lần sau có thể điều chỉnh ra sao.

Bên cạnh đó, cán bộ quản lý cần thường xuyên rà soát các quy định nội bộ của nhà trường. Những yêu cầu nào thực sự cần thiết thì duy trì, những yêu cầu mang tính hình thức, trùng lặp hoặc không còn phù hợp thì mạnh dạn cắt giảm.

Đặc biệt, ban giám hiệu nhà trường đề cao tính dân chủ, lắng nghe những ý kiến tham mưu, đề xuất từ đội ngũ tổ trưởng, tổ phó chuyên môn và giáo viên trong nhà trường khi họ có ý kiến đúng, phù hợp với hướng dẫn của ngành và thực tế tại đơn vị.

Thực tế cho thấy, giáo viên không ngại làm việc, không ngại dự giờ, không ngại xây dựng kế hoạch. Điều giáo viên mong muốn là những công việc ấy thực sự có ý nghĩa đối với hoạt động dạy học và sự phát triển nghề nghiệp của mình.

Một nhà trường tiến bộ không phải là nhà trường có nhiều hồ sơ nhất, nhiều tiết dự giờ nhất hay nhiều biểu mẫu nhất. Một nhà trường tiến bộ là nơi giáo viên được tin tưởng, được trao quyền, được hỗ trợ chuyên môn và được đánh giá bằng hiệu quả thực chất.

Vì vậy, giảm bớt yêu cầu hành chính không có nghĩa là buông lỏng quản lý. Ngược lại, đó là đổi mới phương thức quản lý: từ kiểm soát sang hỗ trợ, từ hình thức sang thực chất, từ “đủ định mức” sang “đạt hiệu quả”.

Nếu làm được điều đó, kế hoạch giáo dục sẽ trở về đúng ý nghĩa của nó; dự giờ sẽ trở thành cơ hội học hỏi thực sự và quan trọng nhất, giáo viên sẽ có thêm thời gian, động lực và không gian sáng tạo để thực hiện tốt nhiệm vụ cốt lõi của mình là dạy học và giúp học sinh tiến bộ.

(*) Văn phong, nội dung bài viết thể hiện góc nhìn, quan điểm của tác giả.

NGUYỄN NGUYÊN