Bộ Giáo dục và Đào tạo đang lấy ý kiến góp ý cho dự thảo Thông tư sửa đổi, bổ sung Thông tư số 38/2026/TT-BGDĐT ngày 29/04/2026 ban hành Chuẩn cơ sở giáo dục nghề nghiệp.
Một trong những điểm mới đáng chú ý của dự thảo là cụ thể hóa yêu cầu về đội ngũ nhà giáo gắn với quy mô đào tạo. Theo đó, dự thảo đề xuất số lượng nhà giáo phải đáp ứng yêu cầu theo quy mô đào tạo, bảo đảm tỷ lệ người học trên nhà giáo quy đổi tối đa 30.
Đồng thời, dự thảo đề xuất mức cơ sở giáo dục nghề nghiệp có diện tích đất sử dụng hợp pháp, đáp ứng quy định của pháp luật có diện tích đất tối thiểu 12,0 m² trên một người học.
Nhiều lãnh đạo cơ sở giáo dục nghề nghiệp cho rằng, quy định về diện tích đất, diện tích sàn tính trên một người học cần được xem xét theo hướng linh hoạt hơn, phù hợp với đặc thù ngành nghề và phương thức tổ chức đào tạo của từng cơ sở.
Tỷ lệ 30 người học/nhà giáo giúp cơ sở giáo dục nghề nghiệp chủ động hơn về đội ngũ
Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Thạc sĩ Hoàng Văn Hùng - Phó Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Y tế Hải Phòng cho biết, việc dự thảo đề xuất tỷ lệ tối đa 30 người học trên một nhà giáo quy đổi tạo thuận lợi hơn cho các cơ sở giáo dục nghề nghiệp trong việc tổ chức và bố trí đội ngũ.
Nếu đặt cạnh tỉ lệ 40 người học trên một nhà giáo quy đổi đối với cơ sở giáo dục đại học, mức 30 người học của giáo dục nghề nghiệp vừa thể hiện yêu cầu phù hợp với đặc thù đào tạo, vừa tạo thêm dư địa để các trường chủ động tính toán nguồn nhân lực theo quy mô và nhu cầu thực tế.
“Từ góc độ tổ chức đào tạo tại cơ sở, quy định này có thể giúp giảm áp lực trong việc duy trì đội ngũ nhà giáo cơ hữu. Không phải ngành nghề nào cũng có quy mô tuyển sinh ổn định và không phải thời điểm nào nhà trường cũng cần một cơ cấu đội ngũ giống nhau. Có những ngành chỉ tuyển được số lượng người học nhất định nhưng vẫn phải duy trì đội ngũ chuyên môn để tổ chức đào tạo.
Mức 30 người học trên một nhà giáo quy đổi tạo điều kiện để nhà trường chủ động hơn trong việc xác định quy mô đội ngũ phù hợp với thực tế đào tạo. Khi kết hợp với cơ chế tính nhà giáo quy đổi dựa trên khối lượng giảng dạy, trường có thể huy động thêm những nguồn nhân lực chuyên môn bên ngoài đội ngũ cơ hữu để đáp ứng nhu cầu giảng dạy trong từng ngành, từng chương trình mà không nhất thiết phải chuyển toàn bộ nhu cầu đó thành yêu cầu về số lượng nhà giáo cơ hữu”, thầy Hùng cho hay.
Ngoài ra, thầy Hoàng Văn Hùng cũng đánh giá cao việc dự thảo mở rộng các nhóm nhà giáo được tính vào tổng số nhà giáo quy đổi, không chỉ giới hạn ở đội ngũ cơ hữu mà còn bao gồm nhà giáo đồng cơ hữu, nhà giáo hợp đồng toàn thời gian sau khi nghỉ hưu và nhà giáo thỉnh giảng trên cơ sở khối lượng giảng dạy thực tế. Đây là cách tiếp cận tương đối sát với thực tiễn sử dụng nhân lực của các cơ sở giáo dục nghề nghiệp hiện nay.
Đặc biệt, giáo dục nghề nghiệp có mối liên hệ khá chặt chẽ với thị trường lao động và doanh nghiệp. Việc cho phép nhà trường tính đến các nhà giáo thỉnh giảng hoặc những người có chuyên môn, kinh nghiệm thực tế tham gia giảng dạy sẽ giúp cơ sở đào tạo có thêm lựa chọn trong xây dựng đội ngũ. Những nhân lực này có thể bổ sung kiến thức và kỹ năng thực tiễn mà đôi khi đội ngũ cơ hữu chưa thể đáp ứng đầy đủ ở tất cả ngành nghề.
Theo thầy Hùng, cách quy định như vậy cũng giúp thay đổi cách nhìn về việc bảo đảm đội ngũ. Thay vì chỉ quan tâm số lượng nhà giáo cơ hữu, cần quan tâm nguồn lực chuyên môn tổng thể để thực hiện khối lượng đào tạo của trường. Nếu một cơ sở có đội ngũ cơ hữu phù hợp, đồng thời huy động được nhà giáo thỉnh giảng, đồng cơ hữu hoặc nhà giáo hợp đồng với khối lượng giảng dạy thực tế rõ ràng thì vẫn có thể bảo đảm yêu cầu đào tạo mà không nhất thiết phải tăng số lượng nhân sự cố định.
Tuy nhiên, sự linh hoạt này cần đi kèm với yêu cầu kiểm soát dựa trên khối lượng giảng dạy thực tế. Việc quy đổi nhà giáo cần phản ánh đúng mức độ tham gia đào tạo, tránh tình trạng chỉ dựa vào hợp đồng hoặc danh sách nhân sự để đáp ứng tiêu chí. Nếu làm được điều này, quy định về tỷ lệ 30 người học trên một nhà giáo quy đổi sẽ vừa tạo thuận lợi cho các cơ sở giáo dục nghề nghiệp, vừa bảo đảm rằng sự linh hoạt về đội ngũ vẫn gắn với chất lượng đào tạo thực tế.
Đồng quan điểm, một vị hiệu trưởng trường nghề cho biết, việc dự thảo quy định tỷ lệ tối đa 30 người học trên một nhà giáo quy đổi đối với cơ sở giáo dục nghề nghiệp là phù hợp và có cơ sở từ yêu cầu thực tế của hoạt động đào tạo. Đặc thù của giáo dục nghề nghiệp không chỉ nằm ở việc truyền đạt kiến thức mà còn đòi hỏi người học được hướng dẫn, kèm cặp và thực hành thường xuyên dưới sự hỗ trợ trực tiếp của nhà giáo. Đặc biệt, với những ngành nghề có tỷ trọng thực hành cao, số lượng người học trong một nhóm quá đông sẽ khiến nhà giáo khó có thể theo sát từng người, kiểm soát quá trình thực hành cũng như kịp thời hỗ trợ khi người học gặp khó khăn.
Mặt khác, tỷ lệ này cũng góp phần bảo đảm chất lượng đội ngũ trong bối cảnh các cơ sở giáo dục nghề nghiệp ngày càng phải chú trọng đến chuẩn đầu ra và khả năng có việc làm của người học. Khi số người học được phân bổ cho mỗi nhà giáo ở mức hợp lý, việc tổ chức đào tạo sẽ thuận lợi hơn, nhất là đối với các nội dung cần hướng dẫn trực tiếp, thực hành trên thiết bị, máy móc hoặc tại xưởng trường. Đây là một trong những điều kiện cần thiết để chuyển từ tư duy quản lý dựa chủ yếu vào quy mô đào tạo sang chú trọng hơn đến chất lượng và hiệu quả đào tạo.
Ngoài ra, việc dự thảo bổ sung quy định về cách tính tổng số nhà giáo quy đổi theo hướng không chỉ tính đội ngũ nhà giáo cơ hữu mà còn bao gồm nhà giáo đồng cơ hữu, nhà giáo hợp đồng toàn thời gian sau khi nghỉ hưu và nhà giáo thỉnh giảng dựa trên khối lượng giảng dạy thực tế là phù hợp với thực tiễn tổ chức và sử dụng đội ngũ tại các cơ sở giáo dục.
Cách tiếp cận này phản ánh sát hơn thực tế sử dụng đội ngũ, bởi tại nhiều cơ sở giáo dục, hoạt động giảng dạy không chỉ được đảm nhiệm bởi đội ngũ cơ hữu mà còn có sự tham gia của các nhà giáo hợp đồng, thỉnh giảng hoặc những người có chuyên môn đang làm việc tại các đơn vị khác.
Tuy nhiên, khi mở rộng các nhóm đối tượng được tính vào tổng số nhà giáo quy đổi, cần có cơ chế quản lý và kiểm soát chặt chẽ để tránh phát sinh kẽ hở trong quá trình xác định quy mô đội ngũ. Nếu chỉ dựa vào hồ sơ hợp đồng hoặc việc ký kết với các nhà giáo mà không đối chiếu với khối lượng giảng dạy thực tế thì có thể dẫn đến tình trạng cơ sở đào tạo có đủ số lượng nhà giáo trên giấy tờ nhưng chưa chắc đáp ứng tương ứng về năng lực giảng dạy thực tế.
Đặc biệt, vấn đề này cần được lưu ý ở những ngành đào tạo có tính đặc thù như khối ngành sức khỏe. Ở các trường đào tạo y khoa, một bộ phận nhân lực vừa tham gia hoạt động chuyên môn tại bệnh viện, vừa tham gia giảng dạy và hướng dẫn thực hành cho người học. Nếu không xác định rõ thời gian, khối lượng và phạm vi công việc dành cho hoạt động giảng dạy, thực hành thì rất khó đánh giá chính xác mức độ đóng góp của đội ngũ này vào quy mô nhà giáo quy đổi.
Do đó, việc tính nhà giáo quy đổi theo khối lượng giảng dạy thực tế là hướng phù hợp nhưng cần quy định rõ tiêu chí xác định khối lượng giảng dạy, cách quy đổi và cơ chế kiểm tra, giám sát. Điều này vừa giúp phản ánh đúng nguồn lực đội ngũ của cơ sở đào tạo, vừa hạn chế tình trạng sử dụng danh nghĩa nhà giáo để đáp ứng các tiêu chí về nhân lực mà chưa bảo đảm tương xứng về hoạt động giảng dạy thực tế.
Chuẩn diện tích cơ sở vật chất cần tính đến đặc thù từng ngành nghề
Điểm d, Khoản 1, Điều 1 dự thảo Thông tư sửa đổi, bổ sung Thông tư số 38/2026/TT-BGDĐT quy định: Cơ sở giáo dục nghề nghiệp có diện tích đất sử dụng hợp pháp, đáp ứng quy định của pháp luật; có diện tích đất tối thiểu 12,0 m² trên một người học theo quy mô đào tạo cao nhất dự kiến trong chiến lược, kế hoạch phát triển nhà trường; có phòng học lý thuyết, phòng học thực hành, thực tập, bảo đảm tổng diện tích sàn sử dụng phục vụ đào tạo tối thiểu 3,5 m² trên một người học quy đổi và đáp ứng yêu cầu của chương trình đào tạo, quy mô và cơ cấu ngành, nghề đào tạo; bảo đảm các quy định an toàn lao động, phòng cháy chữa cháy, bảo hộ theo quy định.
Theo Tiến sĩ Phạm Văn Tân - Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Y tế Hà Nội, quy định về diện tích đất tối thiểu cần được xem xét trên cơ sở đặc thù của từng nhóm ngành, nghề đào tạo, thay vì áp dụng một mức thống nhất cho tất cả cơ sở giáo dục nghề nghiệp.
Đối với mức tối thiểu 12 m² đất/người học được đề xuất trong dự thảo, thầy Tân cho rằng quy định này nên tiếp tục được nghiên cứu theo hướng linh hoạt, bởi nhu cầu sử dụng đất và tổ chức không gian đào tạo giữa các ngành, nghề có sự khác biệt đáng kể.
Đặc biệt, đối với những ngành đào tạo có tính đặc thù như khối ngành sức khỏe, phần lớn hoạt động thực hành, thực tập của người học được tổ chức tại bệnh viện hoặc các cơ sở y tế. Khi đó, nếu toàn bộ yêu cầu về diện tích phục vụ đào tạo đều được quy về khuôn viên của nhà trường thì chưa phản ánh đúng cách thức tổ chức đào tạo thực tế. Nhà trường không nhất thiết phải tự đầu tư toàn bộ hệ thống cơ sở thực hành nếu người học đã được bố trí thực tập tại các bệnh viện, cơ sở y tế có đủ điều kiện chuyên môn.
Cùng là một người học nhưng nhu cầu về phòng học, phòng thí nghiệm, xưởng thực hành hay cơ sở thực tập giữa các ngành, các trường có thể rất khác nhau. Có ngành đòi hỏi diện tích xưởng lớn, cần nhiều thiết bị và không gian thực hành; nhưng cũng có ngành mà hoạt động thực hành chủ yếu được triển khai tại các cơ sở liên kết bên ngoài nhà trường.
Vì vậy, khi xây dựng tiêu chuẩn về diện tích đất, cần tính đến cả hệ thống cơ sở mà nhà trường sử dụng để phục vụ đào tạo, bao gồm cơ sở thực hành, thực tập, bệnh viện hoặc các đơn vị liên kết. Cách tiếp cận này sẽ sát hơn với thực tế tổ chức đào tạo và tránh việc nhà trường phải đáp ứng một diện tích cố định trên đầu người học trong khi một phần đáng kể hoạt động đào tạo đã được thực hiện tại các cơ sở bên ngoài.
Theo thầy Tân, mục tiêu của quy định về diện tích không nên chỉ là yêu cầu cơ sở giáo dục phải có đủ một con số mét vuông nhất định, mà quan trọng hơn là phải bảo đảm người học có đầy đủ không gian và điều kiện cần thiết để thực hiện chương trình đào tạo. Do đó, tiêu chuẩn nên được thiết kế theo hướng có mức cơ bản nhưng đồng thời cho phép điều chỉnh theo nhóm ngành, nghề và phương thức tổ chức đào tạo.
Về diện tích sàn, thầy cho rằng việc chuyển từ cách tính theo “chỗ học” sang tính theo “người học” có ưu điểm là đơn giản, dễ áp dụng và dễ kiểm tra. Hiệu quả sử dụng cơ sở vật chất còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như diện tích xây dựng, diện tích sàn, công năng của từng khu vực, cách bố trí phòng học, phòng thực hành, xưởng thực hành cũng như tần suất khai thác các không gian này. Không phải toàn bộ diện tích sàn của một cơ sở giáo dục đều được sử dụng trực tiếp cho hoạt động giảng dạy mà có thể dành cho các chức năng khác phục vụ hoạt động chung của nhà trường.
Cách tiếp cận này cũng tạo thuận lợi cho công tác quản lý, bởi thay vì phải quy đổi qua nhiều bước từ số “chỗ học”, các cơ sở có thể căn cứ trực tiếp vào quy mô người học để xác định yêu cầu về diện tích sàn. Đây là cách tính tương đối trực quan, dễ triển khai và có thể giúp các trường chủ động hơn trong việc quy hoạch, bố trí, khai thác cơ sở vật chất.
Đặc biệt, với những ngành có yêu cầu rất khác nhau về phòng học chuyên môn, phòng thí nghiệm, xưởng thực hành hoặc cơ sở thực tập, việc áp dụng một mức diện tích chung cho tất cả là khó phù hợp. Với những ngành mà người học thường xuyên thực hành, thực tập tại bệnh viện, doanh nghiệp hoặc cơ sở sản xuất, quy định cũng nên ghi nhận đầy đủ hệ thống cơ sở thực hành, thực tập mà nhà trường có quyền sử dụng để phục vụ đào tạo.
Theo Tiến sĩ Phạm Văn Tân, cách tiếp cận này không chỉ phù hợp với thực tế mà còn giúp tận dụng hiệu quả nguồn lực xã hội, tránh yêu cầu các trường phải đầu tư, duy trì diện tích lớn trong khuôn viên khi một phần hoạt động đào tạo đã được triển khai tại các cơ sở liên kết. Qua đó, tiêu chí về cơ sở vật chất sẽ phản ánh đúng hơn năng lực tổ chức đào tạo thực tế của nhà trường, thay vì chỉ dựa vào diện tích đất, diện tích sàn mà trường đang trực tiếp sở hữu hoặc quản lý.