Ngày 7/10/2026, danh sách “tốp 2% nhà khoa học thế giới” năm 2026 được công bố trên kho dữ liệu của Elsevier.
Cơ sở dữ liệu do Giáo sư John P.A. Ioannidis, Đại học Stanford (Hoa Kỳ), cùng các cộng sự xây dựng.
Phiên bản năm nay sử dụng dữ liệu từ Scopus tại thời điểm ngày 1/8/2026, với số liệu trích dẫn được cập nhật đến hết năm 2025. Cơ sở dữ liệu công bố hai bảng riêng, gồm danh sách dựa trên ảnh hưởng trích dẫn trong toàn bộ sự nghiệp và danh sách dựa trên ảnh hưởng trích dẫn trong riêng năm 2025.
VinUni, Tôn Đức Thắng và Duy Tân có nhiều nhà khoa học nhất
Kết quả lọc bảng dữ liệu về ảnh hưởng trích dẫn trong toàn bộ sự nghiệp theo mã quốc gia Việt Nam ghi nhận 121 nhà khoa học, thuộc 44 cơ quan, đơn vị được thể hiện trong dữ liệu.
Trong đó, Trường Đại học VinUni có 16 nhà khoa học, nhiều nhất trong số các đơn vị có địa chỉ tại Việt Nam. Tiếp đến là Trường Đại học Tôn Đức Thắng với 14 người và Trường Đại học Duy Tân với 13 người.
Ba trường có tổng cộng 43 nhà khoa học, chiếm khoảng 35,5% tổng số tác giả có địa chỉ cơ quan tại Việt Nam trong bảng dữ liệu.
Đại học Quốc gia Hà Nội có 7 nhà khoa học; Đại học Bách khoa Hà Nội có 6 người. Trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh và Đại học Phenikaa cùng có 5 người.
10 nhà khoa học có địa chỉ cơ quan tại Việt Nam đứng đầu
Dưới đây là 10 nhà khoa học có địa chỉ tại Việt Nam có thứ hạng cao nhất ở danh sách này:
| Thứ hạng trong nhóm có địa chỉ tại Việt Nam | Nhà khoa học | Cơ quan được ghi trong dữ liệu | Chuyên ngành chính | Thứ hạng thế giới |
| 1 | David R. Bangsberg | Trường Đại học VinUni | Virus học | 8.926 |
| 2 | Hoàng Anh Tuấn | Trường Đại học Giao thông vận tải Thành phố Hồ Chí Minh | Năng lượng | 11.632 |
| 3 | John Kevin Baird | Đơn vị Nghiên cứu Lâm sàng Đại học Oxford tại Việt Nam | Y học nhiệt đới | 13.083 |
| 4 | Đỗ Ngọc Minh | Trường Đại học VinUni | Trí tuệ nhân tạo | 19.173 |
| 5 | Choi Seung Bok | Trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh | Vật liệu | 20.647 |
| 6 | Trần Xuân Bách | Đại học Quốc gia Hà Nội | Y tế công cộng | 22.065 |
| 7 | Phan Thiện Nhân | Trường Đại học Cửu Long | Hoá học polymer | 22.373 |
| 8 | Võ Xuân Vinh | Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh | Tài chính | 24.187 |
| 9 | Nguyễn Minh Thọ | Trường Đại học VinUni | Vật lý hóa học | 24.197 |
| 10 | Nguyễn Đình Đức | Đại học Quốc gia Hà Nội | Kỹ thuật Công nghệ | 27.065 |
Trong số 10 nhà khoa học có thứ hạng cao nhất, Trường Đại học VinUni có 3 người và Đại học Quốc gia Hà Nội có 2 người.
Theo phương pháp xây dựng cơ sở dữ liệu, các nhà khoa học được phân loại vào 20 lĩnh vực và 174 chuyên ngành. Tiêu chí lựa chọn gồm việc thuộc nhóm 100.000 nhà khoa học có chỉ số c-score cao nhất, xét theo trường hợp có hoặc không tính tự trích dẫn, hoặc thuộc nhóm 2% đứng đầu trong từng chuyên ngành.
Chỉ số c-score tập trung đánh giá mức độ ảnh hưởng của các công trình nghiên cứu thông qua số lượt trích dẫn, đồng thời tính đến yếu tố đồng tác giả và vị trí của tác giả trong các công trình. Số lượng công bố không phải là yếu tố trực tiếp cấu thành chỉ số tổng hợp này.
Thông tin về quốc gia và cơ quan công tác của nhà khoa học được xác định theo hồ sơ Scopus tại thời điểm thu thập dữ liệu. Vì vậy, nhóm 121 nhà khoa học có địa chỉ cơ quan tại Việt Nam có thể bao gồm cả nhà khoa học nước ngoài đang làm việc hoặc có liên kết với các đơn vị tại Việt Nam.
Nhóm xây dựng cơ sở dữ liệu cũng lưu ý, việc một nhà khoa học có tên trong danh sách không phải là bằng chứng tuyệt đối về sự xuất sắc trong nghiên cứu. Ngược lại, một nhà khoa học không xuất hiện trong danh sách cũng không đồng nghĩa với việc chất lượng nghiên cứu thấp.
Xem đầy đủ dữ liệu được công bố tại đây.