Hợp tác giáo dục trong kỉ nguyên số nhìn từ chính sách - mô hình - công nghệ

09/10/2026 08:40

GDVN -Ngày 8/10, trong khuôn khổ Hội nghị quốc tế về hợp tác giáo dục trong kỉ nguyên số, Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức phiên thảo luận chuyên đề “Chính sách - mô hình - công nghệ”.

Chuyển sang phương thức đồng nghiên cứu, đồng sáng tạo

Trong phiên thảo luận này, các doanh nghiệp công nghệ, trường đại học, tổ chức giáo dục và các đơn vị phát triển giải pháp phục vụ ngành Giáo dục đã tham luận, thảo luận, trao đổi liên quan đến thể chế, chính sách, mô hình về công nghệ và hợp tác quốc tế tại nhiều quốc gia trên thế giới.

1.jpg
Quang cảnh phiên thảo luận

Phó Cục trưởng Cục Khoa học, Công nghệ và Thông tin (Bộ Giáo dục và Đào tạo) Trần Nam Tú cho biết: Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 57-NQ/TW, Nghị quyết số 59-NQ/TW và Nghị quyết số 71-NQ/TW cùng hệ thống các luật, văn bản dưới luật hiện có đã trở thành một chỉnh thể thống nhất trong thể chế về đổi mới sáng tạo trong giáo dục tại Việt Nam. Từ đó hình thành một lộ trình, định hướng: giáo dục đào tạo con người; khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo tạo động lực nội sinh và hội nhập quốc tế kết nối tri thức, công nghệ, nguồn lực toàn cầu.

2.jpg
Phó Cục trưởng Cục Khoa học, Công nghệ và Thông tin (Bộ Giáo dục và Đào tạo) Trần Nam Tú chia sẻ tại phiên thảo luận

Phó Cục trưởng Trần Nam Tú cho rằng, khi cơ chế mở đường cho thương mại hoá kết quả nghiên cứu, nhà nước, nhà trường, doanh nghiệp cần chuyển phương thức truyền thống sang phương thức mới như đồng nghiên cứu, đồng sáng tạo, đồng sở hữu kết quả; phòng thí nghiệm và trung tâm xuất sắc hợp tác quốc tế; tham gia xây dựng quy tắc, tiêu chuẩn quốc tế; mạng lưới trí thức Việt Nam ở nước ngoài.

Chia sẻ tại phiên chuyên đề, ông Jonathan Schmidgall, Chuyên gia nghiên cứu cấp cao tại Viện Khảo thí Giáo dục Hoa Kì (ETS), đề cập đến ứng dụng của trí tuệ nhân tạo (AI) trong đánh giá và những hàm ý đối với hoạt động đo lường đánh giá.

3.jpg
Ông Jonathan Schmidgall, Chuyên gia nghiên cứu cấp cao tại Viện Khảo thí Giáo dục Hoa Kì (ETS), chia sẻ tại phiên thảo luận

Theo ông Jonathan Schmidgall, những đánh giá, đo lường nếu được thực hiện một cách hiệu quả thì sẽ công bằng hơn. Nếu phân quá trình đánh giá thành 4 giai đoạn là thiết kế, triển khai, chấm điểm và phản hồi thì AI đang có những tác động trực tiếp đến công tác đánh giá, đo lường. Điển hình như, AI có thể hỗ trợ con người trong việc đánh giá hiệu quả hơn và giúp mở rộng phạm vi có thể đo lường. Trong triển khai bài kiểm tra, AI có thể hỗ trợ các bài thi trực tuyến, an toàn, bảo mật hơn.

Vai trò của AI trong hỗ trợ học tập

Ông Fouad Abd-El-Khalick, Hiệu trưởng, Phó Chủ tịch phụ trách học thuật, Đại học Massachusetts Amherst (UMass Amherst), Hoa Kì khẳng định vai trò của AI trong việc hỗ trợ học tập tại các cơ sở giáo dục đại học và nguồn nhân lực của tương lai.

Tại Đại học Massachusetts Amherst, giảng viên có thể quyết định mức độ sử dụng AI cho các bài giảng của mình, phụ thuộc vào mục tiêu giảng dạy của mỗi người, mỗi bài giảng. Từ đó sinh viên cũng lưu ý đến việc giảng viên quy định họ có được sử dụng AI hay không.

Theo ông Fouad Abd-El-Khalick, Đại học Massachusetts Amherst không chỉ dùng AI để phục vụ việc học tập, nghiên cứu, giảng dạy. Ở chiều ngược lại, trường học còn nghiên cứu chính AI. Theo đó, các nghiên cứu tập trung vào ứng dụng, áp dụng, phát triển AI để phục vụ cộng đồng.

Để phục vụ học tập, nghiên cứu và giảng dạy, Đại học Massachusetts Amherst đã tạo sandbox AI cho giảng viên, sinh viên sử dụng trong khuôn viên trường để bảo đảm an toàn cho người dùng.

Cùng chia sẻ về vai trò của AI, Tiến sĩ Nguyễn Sung - Phó Tổng Giám đốc Nghiên cứu và Phát triển Công nghệ, Tập đoàn Nguyễn Hoàng cho hay, sự phát triển nhanh của trí tuệ nhân tạo và các công nghệ mới đang tạo ra nhiều cơ hội cho giáo dục. Tuy nhiên, nếu chỉ nhìn AI như một công cụ để đưa vào lớp học, chúng ta sẽ chưa chạm đến vấn đề cốt lõi. Công nghệ chỉ thực sự có giá trị khi được đặt trong một hệ thống giáo dục có dữ liệu, có khả năng thử nghiệm, có cơ chế điều chỉnh và có người học đủ năng lực để chủ động tiếp cận tri thức. Điều quan trọng đầu tiên là mọi đổi mới phải xuất phát từ dữ liệu.

5.jpg
Tiến sĩ Nguyễn Sung - Phó Tổng Giám đốc Nghiên cứu và Phát triển Công nghệ, Tập đoàn Nguyễn Hoàng

“Hiện nay, khi nói đến công nghệ trong giáo dục, nhiều nơi thường nghĩ ngay đến cá nhân hóa lộ trình học tập hoặc tối ưu hóa trải nghiệm của sinh viên. Nhưng muốn cá nhân hóa thực chất, nhà trường phải có dữ liệu thực tế từ chính người học. Chúng ta chắc chắn phải sử dụng công nghệ, nhưng công nghệ không thể thay thế việc hiểu đúng nhu cầu, năng lực, tiến độ và bối cảnh học tập của từng người học. Chỉ khi thu thập, phân tích và sử dụng được dữ liệu thực, việc cá nhân hóa lộ trình học tập mới có cơ sở để tạo ra hiệu quả”, Tiến sĩ Sung chia sẻ.

Theo Phó Tổng Giám đốc Nghiên cứu và Phát triển Công nghệ, Tập đoàn Nguyễn Hoàng, năng lực cốt lõi đầu tiên để chủ động trong kỷ nguyên AI là nắm chắc tiếng Anh. Khi có nền tảng tiếng Anh đủ tốt, người học có thể tự đọc, tự kiểm chứng, tự học và tự mở rộng năng lực của mình. Đó là điều kiện quan trọng để không bị công nghệ dẫn dắt một cách thụ động. Đây cũng là một định hướng chiến lược đang được thúc đẩy trong hệ thống giáo dục của Tập đoàn Nguyễn Hoàng.