Thông tin về định hướng đề thi tốt nghiệp trung học phổ thông năm 2027 theo hướng tăng tính phân hóa, trong đó mức 15 điểm có thể tương đương khoảng 17 điểm năm 2026, đang đặt ra nhiều vấn đề về cách hiểu và mục tiêu của việc điều chỉnh đề thi.
Theo các chuyên gia, việc thay đổi mức độ phân hóa cần được đặt trong mối quan hệ với mục tiêu của kỳ thi, chuẩn đầu ra chương trình giáo dục phổ thông và yêu cầu đánh giá năng lực học sinh, thay vì chỉ nhìn vào sự thay đổi của điểm số giữa các năm.
Phân hóa đề thi phải dựa trên chuẩn đầu ra và dữ liệu khảo thí
Theo Tiến sĩ Hoàng Ngọc Vinh - nguyên Vụ trưởng Vụ Giáo dục chuyên nghiệp (Bộ Giáo dục và Đào tạo), khi xây dựng đề thi tốt nghiệp trung học phổ thông, điều quan trọng trước hết không phải là đề thi khó hay dễ, mà là kỳ thi nhằm đánh giá điều gì, dựa trên chuẩn đầu ra nào và kết quả có phản ánh đúng năng lực học sinh hay không.
“Kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông trước hết phải xác nhận học sinh có đạt yêu cầu của chương trình giáo dục phổ thông hay không. Về nguyên tắc, học sinh đáp ứng đầy đủ chuẩn đầu ra và các điều kiện tốt nghiệp thì phải được công nhận. Nhưng khi sử dụng kết quả kỳ thi để xét tuyển đại học, đề thi còn phải có khả năng phân hóa thí sinh theo những mức độ năng lực khác nhau. Hai mục tiêu này cần được xử lý hài hòa ngay từ khâu thiết kế đề thi”, ông Vinh phân tích.
Theo ông Vinh, cần phân biệt rõ độ khó của đề thi với khả năng phân hóa của đề thi. Một đề thi khó chưa chắc đã phân hóa tốt. Ngược lại, đề thi được thiết kế khoa học có thể vừa đánh giá đúng năng lực cơ bản của đa số học sinh, vừa nhận diện được những em có năng lực cao hơn. Không nên đồng nhất nâng chất lượng kỳ thi với việc tăng độ khó của câu hỏi.
Đề cập nhận định 15 điểm năm 2027 có thể tương đương 17 điểm năm 2026, ông cho rằng đây có thể là một dự báo về định hướng ra đề, nhưng xét về khoa học khảo thí, chưa đủ căn cứ để khẳng định sự tương đương ấy.
“Muốn biết 15 điểm của năm sau có thực sự tương đương 17 điểm năm trước hay không, phải có dữ liệu thực nghiệm và phương pháp tương đương hóa đề thi (equating) phù hợp. Không thể chỉ dựa vào nhận định đề năm sau khó hơn để suy ra hai mức điểm tương đương về năng lực. Điểm số chỉ có ý nghĩa khi chúng ta biết nó phản ánh mức năng lực nào của người học”, ông nhấn mạnh.
Mặt khác, ngưỡng 15 điểm theo quy chế tuyển sinh là điều kiện tối thiểu để thí sinh được tham gia xét tuyển đại học, không có nghĩa cứ đạt 15 điểm là đã đáp ứng yêu cầu đầu vào của mọi ngành đào tạo. Nếu đề thi khó hơn khiến số thí sinh đạt ngưỡng này giảm xuống thì cũng chưa thể kết luận chất lượng nguồn tuyển đã được nâng lên.
Tiến sĩ Hoàng Ngọc Vinh cũng lưu ý, Thủ tướng Chính phủ vừa yêu cầu Bộ Giáo dục và Đào tạo rà soát, nghiên cứu điều chỉnh chương trình giáo dục phổ thông theo hướng giảm tải. Vì vậy, định hướng xây dựng đề thi cần được xem xét đồng bộ với mục tiêu chương trình và yêu cầu phát triển năng lực người học.
“Giảm tải không có nghĩa là hạ thấp chuẩn đầu ra, cũng không đồng nghĩa với việc đề thi phải dễ hơn. Nhưng nếu chương trình đang hướng tới giảm tải mà kỳ thi lại tăng độ khó thiếu căn cứ, học sinh sẽ càng lo lắng, tìm đến học thêm, luyện thi nhiều hơn. Như vậy, mục tiêu giảm áp lực học tập có nguy cơ không đạt được”, ông phân tích.
Về kỹ thuật, theo ông, đề thi cần được xây dựng trên cơ sở ma trận gắn với chuẩn đầu ra, hệ thống câu hỏi được thử nghiệm, phân tích độ khó, độ phân biệt và độ tin cậy trước khi sử dụng. Đặc biệt, muốn so sánh kết quả giữa các năm, phải từng bước áp dụng các phương pháp chuẩn hóa và tương đương hóa đề thi dựa trên dữ liệu khảo thí đủ tin cậy.
Ông cho rằng cơ quan quản lý cũng cần thận trọng khi truyền thông về định hướng đề thi, nhất là những thông điệp dự báo đề sẽ khó hơn. Điều học sinh, phụ huynh và giáo viên cần biết không phải đề thi năm sau sẽ khó hơn bao nhiêu, mà là học sinh cần đạt những năng lực gì và kỳ thi sẽ đánh giá những năng lực đó như thế nào.
“Đích đến của đổi mới khảo thí không phải làm cho học sinh khó đạt điểm cao hơn, mà là làm cho điểm số phản ánh trung thực hơn năng lực của các em”, ông Vinh nói.
Đề thi cần ổn định, tránh để học sinh chịu hệ quả từ những điều chỉnh qua từng năm
Cùng bàn về vấn đề này, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Vũ Quỳnh - Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Lạc Hồng, cũng cho rằng tăng tính phân hóa của đề thi tốt nghiệp trung học phổ thông là cần thiết, nhưng không đồng nghĩa với việc đơn thuần tăng độ khó.
Theo thầy, đề thi cần có đủ câu hỏi cơ bản để đánh giá mức độ đáp ứng chuẩn đầu ra của học sinh, đồng thời bố trí các câu hỏi vận dụng và vận dụng cao nhằm phân loại nhóm thí sinh có năng lực tốt, phục vụ tuyển sinh đại học. Cách thiết kế này giúp cân bằng hai mục tiêu của kỳ thi: xét công nhận tốt nghiệp và cung cấp căn cứ tuyển sinh.
Về tác động đến tuyển sinh, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Lạc Hồng nhận định nếu phổ điểm giảm do đề thi tăng tính phân hóa, điểm chuẩn ở một số trường có thể thay đổi, thậm chí phải điều chỉnh giảm. Khi đó, các trường cần căn cứ vào tương quan kết quả của thí sinh để điều chỉnh phương án tuyển sinh. Đặc biệt, những trường phụ thuộc nhiều vào điểm thi tốt nghiệp trung học phổ thông có thể cần đa dạng hóa phương thức tuyển sinh và bổ sung các tiêu chí đánh giá phù hợp. Thầy Quỳnh cũng lưu ý, thực tế tuyển sinh năm 2026 cho thấy những thay đổi về ngưỡng đầu vào đã ảnh hưởng đáng kể đến quy mô tuyển sinh ở một số ngành.
Về cách xây dựng đề thi, lãnh đạo nhà trường cho rằng cần thiết kế ma trận theo các mức độ năng lực, từ nhận biết, thông hiểu đến vận dụng và giải quyết vấn đề. Đề thi nên tăng cường câu hỏi yêu cầu phân tích dữ liệu, vận dụng kiến thức vào tình huống thực tế và kết nối nhiều kiến thức, qua đó đánh giá sát hơn năng lực của học sinh sau 12 năm học.
“Quan trọng nhất là chuẩn hóa ngân hàng câu hỏi, tổ chức thử nghiệm và phân tích thống kê trước khi sử dụng, để việc phân hóa có cơ sở khoa học chứ không phải chỉ làm đề khó hơn”, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Vũ Quỳnh nhấn mạnh.
Trong khi đó, một giáo viên đã nhiều năm đồng hành cùng học sinh lớp 12 cho rằng đề thi tốt nghiệp trung học phổ thông những năm gần đây đã có nhiều cải tiến, khả năng phân loại học sinh tốt hơn.
Cũng theo giáo viên này, tăng tính phân hóa không nhất thiết đồng nghĩa với việc tăng độ khó của đề thi. Điều quan trọng là kỳ thi cần duy trì tính ổn định qua các năm, tránh những thay đổi đột ngột khiến học sinh và giáo viên bị động trong quá trình ôn tập, giảng dạy.
“Đối với mỗi học sinh, kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông là kết quả của 12 năm đèn sách và thường chỉ có một cơ hội duy nhất trong đời để bước qua cánh cửa này cùng bạn bè đồng trang lứa. Tâm lý của học sinh cuối cấp vốn đã rất nhạy cảm và chịu nhiều áp lực”, giáo viên chia sẻ.
Theo giáo viên, nếu một năm nhận thấy phổ điểm quá cao rồi năm sau điều chỉnh đề theo hướng khó hơn để “sửa sai”, hệ quả của sự thay đổi đó sẽ trực tiếp đặt lên lứa học sinh dự thi năm đó. Khi điểm số sụt giảm, học sinh có thể hoang mang, đồng thời cơ hội vào ngành, trường yêu thích cũng bị ảnh hưởng. Những tác động này không thể được giải quyết chỉ bằng việc cơ quan quản lý tiếp tục rút kinh nghiệm cho các năm sau.
“Các em cần một hệ thống thi ổn định, nhất quán để yên tâm học tập và ôn thi, chứ không phải một cấu trúc hay mức độ đề thi thay đổi thất thường theo từng năm”, giáo viên này nêu quan điểm.
Từ thực tế đó, giáo viên cho rằng cần xác định rõ thứ tự mục tiêu của kỳ thi. “Kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông trước hết phải phục vụ mục tiêu xét tốt nghiệp cho đại đa số học sinh sau 12 năm đèn sách, sau đó mới là căn cứ để các trường đại học sử dụng trong tuyển sinh”, giáo viên này nói.