Tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp loại giỏi, xuất sắc ở mức cao tại một số cơ sở giáo dục đại học đại học cũng đặt ra vấn đề về chất lượng đánh giá kết quả học tập. Vì lẽ đó, nhiều chuyên gia bày tỏ băn khoăn về mức độ nỗ lực thực sự của người học khi nhiều trường ghi nhận tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp loại xuất sắc cao. Điều này đòi hỏi việc đánh giá chất lượng đào tạo cần vượt ra ngoài những con số xếp loại, hướng đến năng lực thực chất mà sinh viên đạt được sau quá trình học tập.
Ghi nhận tại lễ tốt nghiệp của nhiều trường đại học trong năm 2026 cho thấy, sinh viên đạt loại giỏi, xuất sắc chiếm tỷ lệ đáng kể. Tại Trường Đại học Công nghệ Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh, trong 4.507 sinh viên hệ chính quy tốt nghiệp đợt tháng 1/2026, có 215 sinh viên đạt loại xuất sắc, chiếm 4,77%, và 1.366 sinh viên đạt loại giỏi, chiếm 30,31%.
Còn tại Đại học Kinh tế Quốc dân, trong tổng số 5.724 sinh viên nhận bằng cử nhân năm 2026, có 51,2% tốt nghiệp loại xuất sắc và 26,3% đạt loại giỏi...
Điểm xuất sắc phải là kết quả của năng lực xuất sắc
Bàn về vấn đề này, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Trung Cang - Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Kiên Giang cho rằng, cần chuyển trọng tâm từ quy mô đào tạo, thứ hạng sang những giá trị thực tế mà nhà trường tạo ra cho người học và xã hội. Trong đó, năng lực của sinh viên sau khi tốt nghiệp là một trong những căn cứ quan trọng để đánh giá hiệu quả đào tạo.
Theo thầy Cang, những giá trị này thể hiện ở kiến thức chuyên môn, kỹ năng thực hành, tư duy sáng tạo, đạo đức nghề nghiệp và khả năng thích ứng với thị trường lao động. Đồng thời, chất lượng giáo dục đại học còn được phản ánh qua đóng góp của nhà trường trong nghiên cứu khoa học, đổi mới sáng tạo và đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước.
Đề cập đến tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp loại giỏi, xuất sắc ở một số cơ sở giáo dục đại học ở mức cao, thầy Cang cho rằng không nên mặc nhiên xem đây là dấu hiệu tiêu cực. Kết quả này có thể xuất phát từ chất lượng đầu vào tốt, chương trình đào tạo phù hợp, phương pháp giảng dạy hiệu quả và sự nỗ lực của người học. Tuy nhiên, cần xem xét liệu kết quả xếp loại có phản ánh đúng kiến thức, kỹ năng và năng lực thực tế của sinh viên hay không.
Trên thực tế, tỷ lệ tốt nghiệp cao có thể chịu tác động từ nhiều yếu tố, trong đó có chất lượng đầu vào, thiết kế chương trình đào tạo, phương pháp giảng dạy và tiêu chí kiểm tra, đánh giá. Vì vậy, không thể chỉ căn cứ vào tỷ lệ sinh viên đạt loại giỏi, xuất sắc để kết luận về chất lượng đào tạo. Các trường cần đối chiếu kết quả học tập với khả năng vận dụng kiến thức, kỹ năng thực hành, tư duy độc lập, năng lực giải quyết vấn đề, kết quả thực tập và mức độ đáp ứng yêu cầu của nhà tuyển dụng.
Từ góc độ này, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Kiên Giang cho rằng, đánh giá người học cần được thực hiện xuyên suốt quá trình đào tạo, kết hợp giữa kết quả học tập và năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn. Việc theo dõi sự tiến bộ của sinh viên cũng có ý nghĩa quan trọng, giúp nhà trường đánh giá sát hơn hiệu quả đào tạo, thay vì chỉ dựa vào điểm số hoặc xếp loại khi tốt nghiệp.
Trong khi đó, Tiến sĩ Trần Đình Lý - Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh cho rằng, chuyển từ tư duy chú trọng quy mô, thứ hạng sang tạo ra giá trị thực chất không đơn thuần là thay đổi tiêu chí đánh giá, mà còn đòi hỏi sự thay đổi trong tư duy quản trị và định hướng phát triển của các trường đại học.
Theo thầy Lý, mở rộng quy mô đào tạo hay nâng cao thứ hạng không phải là mục tiêu sai, nhưng những thành tựu này cần đi đôi với chất lượng và không nên trở thành đích đến tự thân. Điều quan trọng hơn là những giá trị trường đại học tạo ra cho người học, thị trường lao động, hoạt động khoa học và đổi mới sáng tạo, cộng đồng cũng như sự phát triển của con người.
Trong đó, sinh viên sau tốt nghiệp cần có năng lực nghề nghiệp, tư duy độc lập, khả năng thích ứng và tinh thần học tập suốt đời. Kết quả nghiên cứu khoa học cũng cần vượt ra ngoài phạm vi công bố để được chuyển giao, ứng dụng vào thực tiễn, góp phần giải quyết các vấn đề của doanh nghiệp, địa phương và đất nước. Cùng với đó, giáo dục đại học cần chú trọng bồi dưỡng đạo đức, trách nhiệm xã hội và tinh thần cống hiến cho người học.
Liên hệ với thực tiễn đào tạo tại Trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh, thầy Lý nhấn mạnh việc gắn đào tạo với sản xuất, đẩy mạnh nghiên cứu ứng dụng, chuyển giao khoa học công nghệ và hợp tác với doanh nghiệp. Theo thầy, năng lực của một kỹ sư nông nghiệp không chỉ thể hiện qua điểm số mà còn ở khả năng vận dụng kiến thức để giải quyết những vấn đề thực tế trong sản xuất, đáp ứng nhu cầu của người nông dân và doanh nghiệp.
Từ đó, hiệu quả của một trường đại học không nên chỉ được nhìn nhận qua số lượng sinh viên tuyển được hay vị trí trên các bảng xếp hạng, mà cần được đánh giá bằng năng lực của người học sau tốt nghiệp và những đóng góp thực tế của họ cho xã hội.
Đề cập đến tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp loại xuất sắc ở mức cao tại một số trường đại học, Tiến sĩ Trần Đình Lý cho rằng cần nhìn nhận vấn đề khách quan, khoa học và công bằng. Theo thầy, tỷ lệ này tăng cao không đồng nghĩa với chất lượng đào tạo giảm sút, bởi kết quả có thể xuất phát từ chất lượng đầu vào được cải thiện, chương trình đào tạo hiệu quả hơn, phương pháp giảng dạy đổi mới và sự nỗ lực của sinh viên.
Tuy nhiên, nếu tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp xuất sắc tăng nhanh, bất thường hoặc tăng đồng loạt mà không có minh chứng tương ứng về năng lực người học, các trường cần phân tích kỹ nguyên nhân. Theo đó, cần phân biệt rõ sinh viên thực sự tiến bộ, điều kiện học tập và hệ thống hỗ trợ người học được cải thiện hay tiêu chí đánh giá chưa đủ nghiêm ngặt, thiếu khả năng phân hóa, dẫn đến tình trạng điểm số chưa phản ánh đúng năng lực.
Theo Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh, điều quan trọng không nằm ở số lượng sinh viên đạt loại xuất sắc, mà ở việc kết quả đó có tương xứng với năng lực thực tế hay không. Sinh viên được xếp loại xuất sắc cần thể hiện năng lực nổi trội về kiến thức chuyên môn, kỹ năng, tư duy phản biện, khả năng giải quyết vấn đề và tính chủ động trong công việc.
Thầy Lý cũng lưu ý, không thể chỉ dựa vào tỷ lệ tốt nghiệp xuất sắc để kết luận một trường đại học đánh giá dễ dãi hay nghiêm túc. Cần xem xét kết quả này trong mối tương quan với năng lực thực tế của sinh viên sau tốt nghiệp và yêu cầu của thị trường lao động. Nếu sinh viên đạt kết quả học tập cao nhưng vẫn gặp khó khăn khi xử lý công việc thực tế, hoặc doanh nghiệp phải đào tạo lại nhiều, nhà trường cần rà soát cả chương trình đào tạo lẫn hệ thống kiểm tra, đánh giá.
“Điểm xuất sắc phải là kết quả của năng lực xuất sắc, chứ không thể là sản phẩm của một hệ thống đánh giá dễ dãi”, thầy Lý nhấn mạnh.
Giá trị tấm bằng phải được kiểm chứng bằng năng lực thực tế
Từ vấn đề tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp loại xuất sắc ở mức cao, một khía cạnh cần được xem xét là mối quan hệ giữa chất lượng đầu vào, quá trình đào tạo và năng lực thực tế của người học. Theo Tiến sĩ Trần Đình Lý, chất lượng giáo dục đại học cần được nhìn nhận qua giá trị gia tăng mà nhà trường tạo ra, tức mức độ tiến bộ của sinh viên từ khi nhập học đến khi tốt nghiệp.
Trên thực tế, chất lượng đầu vào là lợi thế nhưng không phải yếu tố duy nhất quyết định chất lượng đầu ra. Một trường tuyển được nhiều sinh viên giỏi chưa thể khẳng định hiệu quả đào tạo cao nếu năng lực của người học không tiến bộ tương xứng sau quá trình học tập. Ngược lại, nếu nhà trường giúp sinh viên cải thiện rõ rệt về kiến thức, kỹ năng, thái độ và năng lực nghề nghiệp so với thời điểm nhập học, đó cũng là kết quả đào tạo đáng ghi nhận.
Từ góc độ này, chất lượng đào tạo không chỉ được đánh giá qua kết quả học tập khi tốt nghiệp mà còn cần xem xét sinh viên đã tiến bộ như thế nào trong suốt quá trình học. Thầy Lý cho rằng, các trường cần kết hợp nhiều căn cứ đánh giá, từ mức độ đáp ứng chuẩn đầu ra, năng lực thực hành và giải quyết vấn đề thể hiện qua đồ án, dự án, kỳ thực tập, nghiên cứu khoa học đến sự tiến bộ của người học qua từng giai đoạn.
Bên cạnh đó, kết quả sau tốt nghiệp cũng là căn cứ quan trọng, trong đó cần xem xét mức độ phù hợp giữa việc làm với ngành đào tạo, khả năng thích ứng và phát triển nghề nghiệp của người học, cùng phản hồi từ doanh nghiệp về kiến thức, kỹ năng và thái độ làm việc của sinh viên.
Do đó, không nên đồng nhất tỷ lệ có việc làm với chất lượng đào tạo, bởi cần đánh giá cả tính phù hợp của công việc và khả năng phát triển nghề nghiệp lâu dài. Đặc biệt, khi trí tuệ nhân tạo đang làm thay đổi yêu cầu của thị trường lao động, giá trị của tấm bằng đại học càng cần được kiểm chứng thông qua khả năng vận dụng kiến thức, giải quyết vấn đề và thích ứng với thực tiễn của người học.
Điểm số phản ánh kết quả học tập theo những tiêu chí nhất định, nhưng để đánh giá đầy đủ hiệu quả đào tạo, cần xem xét cả năng lực mà sinh viên hình thành và những tiến bộ các em đạt được trong quá trình học tập.
Từ những vấn đề trên, yêu cầu đặt ra với các cơ sở giáo dục đại học là bảo đảm bằng cấp phản ánh đúng năng lực của người học. Theo Tiến sĩ Trần Đình Lý, muốn nâng cao chất lượng đào tạo thực chất, các trường cần đổi mới đồng bộ từ thiết kế chương trình, tổ chức giảng dạy đến kiểm tra, đánh giá, thay vì để việc ghi nhớ kiến thức và đạt điểm cao trở thành mục tiêu cuối cùng của sinh viên.
Trước hết, chương trình đào tạo cần chuyển mạnh từ truyền thụ kiến thức sang phát triển năng lực, xác định rõ sinh viên có thể làm gì, giải quyết được những vấn đề nào sau khi tốt nghiệp và có khả năng thích ứng ra sao trước những thay đổi của nghề nghiệp.
Cùng với đó, cần tăng cường gắn đào tạo với thực tiễn thông qua các dự án, tình huống, hoạt động nghiên cứu, thực tập và trải nghiệm tại doanh nghiệp. Doanh nghiệp không chỉ tiếp nhận sinh viên thực tập mà còn cần tham gia xây dựng chương trình, phối hợp đào tạo và đánh giá năng lực người học.
Một yêu cầu quan trọng khác là đổi mới phương pháp kiểm tra, đánh giá theo hướng đo lường năng lực thực chất. Thay vì phụ thuộc chủ yếu vào điểm thi, các trường cần kết hợp đánh giá quá trình, sản phẩm học tập, thuyết trình, phản biện và thực hành. Trong bối cảnh trí tuệ nhân tạo ngày càng phổ biến, hình thức đánh giá cũng cần được thiết kế để xác định khả năng tư duy, vận dụng kiến thức và mức độ làm chủ sản phẩm của sinh viên, thay vì chỉ căn cứ vào kết quả cuối cùng được trình bày.
Bên cạnh đó, thầy Lý cho rằng các trường cần bảo đảm tính minh bạch và khả năng phân hóa của hệ thống đánh giá thông qua việc xây dựng tiêu chí rõ ràng, tăng cường kiểm định nội bộ, phân tích phân bố điểm và rà soát những học phần có tỷ lệ điểm cao bất thường. Việc đánh giá cần bảo đảm công bằng, phản ánh đúng mức độ đạt chuẩn của người học, không chịu áp lực phải duy trì tỷ lệ sinh viên giỏi, xuất sắc nhằm làm đẹp thành tích.
Theo thầy Lý, chất lượng đào tạo cũng cần được kiểm chứng từ bên ngoài nhà trường. Phản hồi của doanh nghiệp, tổ chức nghề nghiệp, cựu sinh viên và các bên liên quan có thể giúp nhận diện những khoảng cách giữa mục tiêu đào tạo với yêu cầu thực tế, từ đó điều chỉnh chương trình và phương pháp giảng dạy phù hợp hơn.
Đặc biệt, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh lưu ý, đánh giá nghiêm túc không đồng nghĩa với cố tình cho điểm thấp hay gây khó khăn cho sinh viên. Điều quan trọng là nhà trường xây dựng chuẩn đầu ra rõ ràng, hỗ trợ người học đạt chuẩn và đánh giá trung thực kết quả đạt được.
Từ góc nhìn này, giá trị của tấm bằng đại học không chỉ nằm ở kết quả xếp loại khi tốt nghiệp, mà còn phải được khẳng định bằng năng lực làm việc, đạo đức nghề nghiệp và những đóng góp thực tế của người học sau khi ra trường.
“Tôi cho rằng giáo dục đại học Việt Nam đang đứng trước yêu cầu chuyển đổi quan trọng: từ tư duy coi trọng thành tích sang kiến tạo giá trị, từ đánh giá kết quả học tập sang đánh giá năng lực thực chất của người học. Chúng ta cần nhiều sinh viên giỏi, xuất sắc, nhưng quan trọng hơn là xã hội phải thực sự tin tưởng vào chất lượng của những danh hiệu ấy.
Đừng để tấm bằng ngày càng đẹp hơn trong khi năng lực thực tế chưa tương xứng, cũng đừng để cuộc đua thứ hạng khiến các trường quên đi sứ mệnh phát triển con người và phụng sự xã hội. Một nền giáo dục đại học mạnh không chỉ tạo ra những sinh viên đạt thành tích cao, mà còn đào tạo những con người có năng lực, nhân cách và khả năng đóng góp thiết thực cho sự phát triển của đất nước”, thầy Lý nhấn mạnh.
Còn theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Trung Cang, để nâng cao chất lượng đào tạo thực chất, các trường đại học cần xây dựng chương trình gắn với thực tiễn, thường xuyên cập nhật kiến thức mới và đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động. Phương pháp giảng dạy cần khuyến khích sinh viên chủ động tự học, tự nghiên cứu, thảo luận nhóm và tham gia các dự án thực tế, qua đó phát triển tư duy độc lập và khả năng giải quyết vấn đề.
Bên cạnh đó, các trường cần đa dạng hóa hình thức kiểm tra, đánh giá thông qua bài tập thực hành, thuyết trình, dự án và thực tập. Đồng thời xây dựng tiêu chí chấm điểm minh bạch, khách quan, tăng cường giám sát chất lượng đánh giá. Qua đó, kết quả học tập và bằng cấp có thể phản ánh sát hơn năng lực thực tế của người học, góp phần củng cố uy tín và nâng cao chất lượng giáo dục đại học.
Theo thầy Cang, mục tiêu cốt lõi của giáo dục đại học không nằm ở số lượng bằng cấp hay thứ hạng của nhà trường, mà là đào tạo những người học có kiến thức, kỹ năng, đạo đức nghề nghiệp và năng lực đóng góp tích cực cho xã hội.