Quy định về tỷ lệ tốt nghiệp trong Thông tư 83: Tăng tính linh hoạt nhưng vẫn giữ vững chuẩn đầu ra

18/10/2026 06:24
Trần Trang

GDVN -Theo Thông tư số 83/2026/TT-BGDĐT, tỷ lệ tốt nghiệp được xác định bằng tỷ lệ người học hoàn thành chương trình đào tạo trong thời gian không vượt quá 1,5 lần thời gian đào tạo chuẩn.

Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Thông tư số 83/2026/TT-BGDĐT quy định Chuẩn cơ sở giáo dục đại học. Thông tư có hiệu lực từ ngày 15/11/2026, thay thế Thông tư số 01/2024/TT-BGDĐT ngày 05/02/2024 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Chuẩn cơ sở giáo dục đại học.

Trong đó, Tiêu chí 5.3 trong Tuyển sinh và đào tạo thay đổi như sau: Tỷ lệ tốt nghiệp không thấp hơn 60% được xác định bằng tỷ lệ người học hoàn thành chương trình đào tạo trong thời gian không vượt quá 1,5 lần thời gian đào tạo chuẩn trên số người thực tuyển của khóa tuyển sinh năm đó tính đến 31/12 của năm đánh giá; đồng thời tỷ lệ tốt nghiệp đúng hạn, được xác định bằng tỷ lệ người học hoàn thành chương trình đào tạo trong thời gian đào tạo chuẩn, không thấp hơn 40%.

Trước đó, Thông tư số 01 quy định: Tỷ lệ tốt nghiệp, được xác định bằng tỷ lệ người học tốt nghiệp trong thời gian không chậm quá 2 năm so với kế hoạch học tập chuẩn, không thấp hơn 60%; tỷ lệ tốt nghiệp đúng hạn không thấp hơn 40%.

Đại diện nhà trường cho rằng, cách xác định thời hạn tốt nghiệp gắn với thời gian đào tạo chuẩn của từng chương trình phù hợp hơn với thực tế tổ chức đào tạo tại các cơ sở giáo dục đại học.

Chương trình đào tạo có thời gian học khác biệt, quy định thay đổi là phù hợp

Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phùng Trung Nghĩa - Hiệu trưởng Trường Đại học Công nghệ Thông tin và Truyền thông, Đại học Thái Nguyên bày tỏ: “Tôi đánh giá đây là sự điều chỉnh hợp lý, phản ánh đúng hơn đặc điểm của đào tạo đại học theo hệ thống tín chỉ và xu hướng lấy người học làm trung tâm.

Thời gian đào tạo chuẩn là mốc thiết kế chương trình, nhưng lộ trình học tập thực tế của sinh viên không hoàn toàn giống nhau. Một số em cần thêm thời gian tích lũy tín chỉ, hoàn thành thực tập, cải thiện năng lực hoặc giải quyết khó khăn về kinh tế, sức khỏe và hoàn cảnh cá nhân. Vì vậy, không nên đồng nhất việc tốt nghiệp chậm với chất lượng học tập kém.

Điểm đáng chú ý của Thông tư 83/2026/TT-BGDĐT là thay cách tính thời gian theo dõi tốt nghiệp từ mức cộng thêm cố định hai năm sang giới hạn không vượt quá 1,5 lần thời gian đào tạo chuẩn. Với chương trình 4 năm, mốc này là 6 năm; với chương trình 5 năm, là 7,5 năm. Cách tính theo tỷ lệ tạo sự tương thích tốt hơn giữa các chương trình có thời lượng khác nhau. Tuy nhiên, cần phân biệt đây là mốc thống kê tỷ lệ tốt nghiệp theo Chuẩn cơ sở giáo dục đại học, không phải quy định mặc nhiên về thời gian học tối đa của từng sinh viên”.

1757839491279.png
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phùng Trung Nghĩa - Hiệu trưởng Trường Đại học Công nghệ Thông tin và Truyền thông, Đại học Thái Nguyên. Ảnh: Website nhà trường

Thầy Nghĩa cho rằng, điều quan trọng là quy định mới không hạ thấp yêu cầu chất lượng: ngưỡng tỷ lệ tốt nghiệp tối thiểu 60% và tỷ lệ tốt nghiệp đúng hạn tối thiểu 40% vẫn được giữ nguyên. Các trường không thể coi việc kéo dài khoảng thời gian thống kê là giải pháp thay thế cho cải tiến đào tạo. Ngược lại, phải giúp sinh viên hoàn thành chương trình đúng tiến độ nhiều hơn, đồng thời có cơ chế hỗ trợ phù hợp đối với những trường hợp cần thêm thời gian. Tinh thần cốt lõi của điều chỉnh này là tăng tính linh hoạt nhưng vẫn giữ vững chuẩn đầu ra và trách nhiệm giải trình của cơ sở đào tạo.

Theo thầy Nghĩa, hiệu quả đào tạo cần được nhìn nhận đồng thời qua tỷ lệ tốt nghiệp, tỷ lệ thôi học, mức độ đạt chuẩn đầu ra và khả năng thích ứng với thị trường lao động. Một tỷ lệ tốt nghiệp cao sẽ không có nhiều ý nghĩa nếu năng lực thực tế của người học chưa đáp ứng yêu cầu. Nhà trường định hướng ứng dụng phân tích dữ liệu và trí tuệ nhân tạo để theo dõi tiến độ tích lũy tín chỉ, cảnh báo sớm nguy cơ chậm tốt nghiệp và hỗ trợ sinh viên ngay trong quá trình học.

Cùng bàn luận về chủ đề này, đại diện Phòng Quản lý đào tạo, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh chỉ ra, đào tạo theo hệ thống tín chỉ mang lại quyền chủ động lớn cho người học, nhưng cũng đặt ra thách thức trong việc quản lý và xây dựng lộ trình học tập phù hợp.

Ngoài các trường hợp nợ môn hoặc chưa đáp ứng yêu cầu về chứng chỉ ngoại ngữ, tin học, nhà trường cũng ghi nhận những sinh viên chủ động kéo dài thời gian học để theo đuổi chương trình song ngành, tham gia trao đổi học thuật ở nước ngoài hoặc đi làm sớm để tích lũy kinh nghiệm.

Trong đào tạo theo hệ thống tín chỉ, đây là những lựa chọn cá nhân chính đáng, giúp sinh viên có thêm cơ hội phát triển năng lực và chuẩn bị tốt hơn cho công việc sau khi ra trường.

Một nguyên nhân khác xuất phát từ đặc thù tổ chức đào tạo ở một số ngành có quy mô nhỏ. Theo đó, số sinh viên đăng ký học lại một học phần tự chọn đôi khi chỉ có vài người, khiến nhà trường cần thêm thời gian để sắp xếp và tổ chức lớp học bổ sung, qua đó có thể ảnh hưởng đến tiến độ học tập của sinh viên.

Đại diện Phòng Quản lý đào tạo chia sẻ: “Trăn trở lớn nhất của người làm đào tạo là phải giữ vững chuẩn mực chất lượng. Nhà trường không thể vì muốn số liệu tốt nghiệp đẹp mà hạ chuẩn ngoại ngữ hay nới lỏng yêu cầu chuyên môn. Với yêu cầu trong Chuẩn giáo dục đại học, nhà trường xác định giúp sinh viên ra trường đúng hạn nhưng phải đảm bảo năng lực thực chất khi bước ra thị trường lao động”.

752484610-2492798014572924-2262461351104916201-n.jpg
Ảnh minh họa: Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh

Cơ sở đào tạo cần chuẩn hóa hệ thống dữ liệu quản trị

Theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phùng Trung Nghĩa, các cơ sở đào tạo cần coi việc thực hiện Thông tư 83 là cơ hội rà soát và nâng cao năng lực quản trị, chứ không chỉ là một đợt đối chiếu số liệu để đáp ứng yêu cầu quản lý. Việc đầu tiên là đánh giá đầy đủ từng tiêu chuẩn, tiêu chí và chỉ số theo quy định mới, xác định khoảng cách so với yêu cầu, phân công trách nhiệm và xây dựng lộ trình cải thiện có nguồn lực, thời hạn và cơ chế kiểm chứng cụ thể.

Trọng tâm thứ hai là nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo. Đối với các chỉ số về tốt nghiệp, thôi học và kết quả đầu ra, giải pháp không phải nới lỏng đánh giá để cải thiện tỷ lệ, mà là thiết kế chương trình hợp lý, tổ chức học phần linh hoạt, tăng cường cố vấn học tập, cảnh báo sớm và hỗ trợ những sinh viên có nguy cơ chậm tiến độ. Đồng thời, cần kết nối chặt chẽ hơn với doanh nghiệp để hoạt động thực tập, trải nghiệm nghề nghiệp và đánh giá năng lực thực tế trở thành một phần hữu cơ của quá trình đào tạo.

Trọng tâm thứ ba là chuẩn hóa hệ thống dữ liệu quản trị. Các chỉ số như tỷ lệ tốt nghiệp phải được theo dõi theo từng khóa tuyển sinh, thời gian đào tạo chuẩn và thời điểm đánh giá; nếu dữ liệu phân tán hoặc cách tính thiếu nhất quán thì ngay cả việc đánh giá đúng thực trạng cũng gặp khó khăn. Vì vậy, nhà trường cần có dữ liệu xuyên suốt từ tuyển sinh, quá trình học tập đến tốt nghiệp và việc làm, cùng quy trình kiểm tra, đối soát và công khai thông tin theo quy định. Đây cũng là nền tảng để ứng dụng AI một cách có trách nhiệm trong dự báo và hỗ trợ ra quyết định.

Bên cạnh đó, các điều kiện bảo đảm chất lượng như đội ngũ giảng viên, cơ sở vật chất, tài chính, nghiên cứu khoa học và sự hài lòng của người học phải được cải thiện đồng bộ. Không thể chỉ tập trung vào một vài chỉ số dễ đo lường mà bỏ qua năng lực đào tạo và nghiên cứu lâu dài của nhà trường.

“Đối với Trường Đại học Công nghệ Thông tin và Truyền thông, Đại học Thái Nguyên, chúng tôi gắn việc triển khai Chuẩn mới với định hướng phát triển đại học số, ứng dụng AI trong quản trị và đào tạo, mở rộng hợp tác doanh nghiệp và tăng cường môi trường thực hành, thực tập, đổi mới sáng tạo cho sinh viên. Theo tôi, các ngưỡng tối thiểu của Chuẩn phải được coi là điểm xuất phát, không phải đích đến. Điều xã hội cần ở một trường đại học không chỉ là đạt chuẩn trên báo cáo, mà là chất lượng đào tạo được cải thiện thực chất và người học được thụ hưởng kết quả đó” – thầy Nghĩa bày tỏ.

Đại diện Phòng Quản lý đào tạo, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh cho rằng, với quy mô hàng chục nghìn sinh viên trong khi thầy cô cố vấn học tập đều kiêm nhiệm công tác giảng dạy và nghiên cứu, việc theo dõi thủ công tiến độ của từng em là điều gần như không thể. Nếu không có hệ thống dữ liệu tự động nhận diện từ năm 2 hoặc năm 3, sự hỗ trợ của thầy cô thường bị chậm nhịp, đến năm cuối mới phát hiện thì đã muộn.

Chưa kể, các điều kiện tốt nghiệp hiện nay nằm ở nhiều đơn vị khác nhau từ chuyên môn, ngoại ngữ cho đến thể chất, quốc phòng; nếu khâu kết nối thông tin giữa các bên chưa thật sự thông suốt thì việc nhắc nhở sinh viên hoàn thiện hồ sơ sẽ gặp không ít trở ngại.

Do đó, nhà trường đang chuyển hoàn toàn sang hướng chủ động đồng hành từ sớm. Hiện tại, hệ thống quản lý học vụ đã bắt đầu quét và gửi cảnh báo những trường hợp sinh viên có nguy cơ chậm tiến độ ngay từ năm thứ hai. Dữ liệu này giúp thầy cô cố vấn học tập chủ động hẹn gặp, cùng các em gỡ rối lộ trình đăng ký môn học cho các kỳ tiếp theo.

Để giải quyết nút thắt ngoại ngữ, trường mở các lớp bồi dưỡng và tổ chức thi đánh giá năng lực định kỳ ngay tại khuôn viên trường, giúp sinh viên giảm bớt áp lực chi phí và thời gian đi lại. Đồng thời, việc duy trì đều đặn 4 đợt xét tốt nghiệp trong một năm học giúp các bạn hoàn thành điều kiện ở bất kỳ thời điểm nào cũng có thể nhận bằng ngay, không bị lỡ mất cơ hội việc làm hay học tiếp lên cao.

Về kết quả, chuyển biến rõ nét nhất lúc này là sự thay đổi trong cách làm việc của các Khoa và sự gắn kết với sinh viên. Thầy cô đã chủ động rà soát hồ sơ của các bạn năm cuối từ rất sớm, phối hợp với các phòng ban tháo gỡ từng vướng mắc (nếu có) về chứng chỉ, điểm rèn luyện trước mỗi đợt xét. Số lượng sinh viên được hỗ trợ kịp thời để hoàn tất thủ tục đã tăng lên đáng kể, tạo nền tảng vững chắc để tỷ lệ tốt nghiệp đúng hạn được cải thiện thực chất trong các năm học tới.

Trần Trang