Bộ Giáo dục và Đào tạo đang lấy ý kiến dự thảo lần 2 Nghị định về chính sách khuyến khích, hỗ trợ người học và giảng viên đi học tập, nghiên cứu, thỉnh giảng, trao đổi học thuật tại các nước phát triển, có quan hệ truyền thống hoặc có thế mạnh trong những ngành, lĩnh vực trọng điểm.
Theo dự thảo lần này, giảng viên đi thỉnh giảng và trao đổi học thuật ở nước ngoài được hỗ trợ 1 vé máy bay khứ hồi hạng phổ thông, lệ phí hộ chiếu, lệ phí visa và chi phí đi lại từ sân bay đến nơi đào tạo hoặc nơi ở và ngược lại, trong quá trình được cử đi thỉnh giảng và trao đổi học thuật để đi và về Việt Nam. Ngoài ra, giảng viên được hỗ trợ bảo hiểm y tế và cấp sinh hoạt phí hằng tháng bằng mức cao nhất đang áp dụng đối với công dân Việt Nam đi học ở nước ngoài theo các đề án, chương trình học bổng của Chính phủ.
Đáng chú ý, giảng viên được cử đi học, nghiên cứu ở nước ngoài không còn được giữ nguyên lương và phụ cấp, thay vì được hưởng 100% như đề xuất ban đầu tại dự thảo lần 1.
Các trường đại học giảm được áp lực tài chính, có thêm sự chủ động trong phân bổ kinh phí
Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Tiến sĩ Lê Đình Lương - Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Công nghệ Thành phố Hồ Chí Minh cho biết, các chính sách hỗ trợ giảng viên trong dự thảo Nghị định lần 2 có ý nghĩa thiết thực, thể hiện sự quan tâm của nhà nước đối với việc phát triển đội ngũ giảng viên chất lượng cao và thúc đẩy hội nhập quốc tế trong giáo dục đại học. Những khoản hỗ trợ chi phí đi lại, bảo hiểm y tế và sinh hoạt phí góp phần giảm gánh nặng tài chính, tạo điều kiện để giảng viên tiếp cận môi trường học thuật tiên tiến, nâng cao năng lực giảng dạy, nghiên cứu và mở rộng hợp tác quốc tế.
Tuy nhiên, mức độ đáp ứng chi phí sinh hoạt còn phụ thuộc vào điều kiện thực tế tại từng quốc gia, nhất là tại các trung tâm giáo dục và nghiên cứu có mức sống cao. Vì vậy, chính sách cần có cơ chế xác định sinh hoạt phí phù hợp với từng địa bàn, đồng thời khuyến khích các cơ sở giáo dục nước ngoài hỗ trợ thêm về chỗ ở và điều kiện nghiên cứu.
Theo thầy Lương, việc dự thảo Nghị định lần 2 không tiếp tục đề xuất chế độ hưởng nguyên lương đối với giảng viên đi thỉnh giảng và trao đổi học thuật ở nước ngoài, cần được nhìn nhận từ cả góc độ quản trị tài chính và phát triển đội ngũ. Đây là vấn đề đòi hỏi sự cân nhắc giữa khả năng cân đối nguồn lực của các cơ sở giáo dục đại học và quyền lợi của giảng viên, nhất là khi mỗi trường có đặc thù tổ chức và phương thức vận hành khác nhau.
Việc không áp dụng chế độ hưởng nguyên lương có thể góp phần giảm áp lực tài chính cho các trường đại học, nhất là khi nhà trường phải bố trí nhân sự thay thế để duy trì hoạt động giảng dạy. Đồng thời, các cơ sở giáo dục đại học sẽ có thêm sự chủ động trong phân bổ kinh phí và xây dựng chính sách hỗ trợ phù hợp với điều kiện thực tế.
Tuy nhiên, cần phân biệt giữa các chương trình đào tạo dài hạn và hoạt động thỉnh giảng, trao đổi học thuật ngắn hạn để có cơ chế phù hợp với tính chất từng nhiệm vụ. Chính sách cần hài hòa giữa hiệu quả sử dụng nguồn lực và quyền lợi của giảng viên, tránh để việc điều chỉnh chế độ tiền lương làm giảm động lực tham gia các hoạt động học thuật quốc tế.
Ngoài ra, thầy Lương cho rằng cũng cần lưu ý việc làm rõ cơ chế bảo đảm quyền lợi bảo hiểm xã hội tại Việt Nam đối với giảng viên được cử đi nước ngoài, nhất là khi chế độ tiền lương có thay đổi trong thời gian thực hiện chương trình. Điều này giúp hạn chế nguy cơ gián đoạn quá trình tham gia bảo hiểm xã hội và bảo đảm quyền lợi an sinh lâu dài cho giảng viên. Chính sách hỗ trợ cần hài hòa giữa việc giảm áp lực tài chính trước mắt và bảo đảm quyền lợi lâu dài, qua đó tạo động lực để giảng viên tham gia các hoạt động học thuật quốc tế, đóng góp vào chất lượng đào tạo, nghiên cứu và vị thế quốc tế của giáo dục đại học Việt Nam.
Cùng chung quan điểm, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Vũ Đức Lung - Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Công nghệ thông tin, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh cho hay, những hỗ trợ cho giảng viên trong dự thảo là tín hiệu rất tích cực. Chính sách cho giảng viên đi thỉnh giảng, trao đổi học thuật được thiết kế khá đầy đủ, từ vé máy bay, visa, bảo hiểm y tế đến sinh hoạt phí. Giảng viên sẽ bớt lo những chi phí “khởi động”, vốn thường là rào cản lớn nhất khi nhận lời mời từ đối tác nước ngoài.
Về việc dự thảo bỏ đề xuất giữ nguyên lương cho giảng viên đi thỉnh giảng và trao đổi học thuật ở nước ngoài, theo thầy Lung, khi giảng viên vắng mặt dài hạn (có thể tính là từ trên 3 tháng), các trường vẫn phải mời người thay thế để đảm bảo lớp học. Nếu đồng thời trả nguyên lương thì gánh nặng tài chính rất lớn, nhất là với các trường tự chủ.
Song, cần lưu ý rằng, thu nhập trong nước cũng là chỗ dựa của gia đình giảng viên. Nếu mất hoàn toàn, nhiều giảng viên trẻ sẽ ngần ngại việc đi học tập, nghiên cứu, thỉnh giảng, trao đổi học thuật. Chính vì vậy, việc giữ mức lương hiện hưởng của giảng viên đi kèm với sự đảm bảo không bị gián đoạn bảo hiểm xã hội, thâm niên, xét nâng lương là phương án hợp lý.
Còn theo Tiến sĩ Trần Hữu Duy - Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Đà Lạt, mức hỗ trợ đối với giảng viên trong dự thảo là phù hợp và cơ bản đáp ứng nhu cầu sinh hoạt khi đội ngũ này tham gia học tập, nghiên cứu ở nước ngoài.
Thầy Duy cũng đưa ra lưu ý, một số giảng viên, đặc biệt là các giảng viên trẻ có hoàn cảnh gia đình khó khăn, con nhỏ phải lo chi phí học hành, nếu không được hưởng nguyên lương, ít nhất là lương cơ bản theo hệ số ngạch bậc thì cũng gây khó khăn cho giảng viên yên tâm đi học.
Tuy nhiên, các trường đại học cũng có lý do để không đồng thuận với việc cho giảng viên hưởng nguyên lương. Bởi, điều này có thể gây ra sự thiếu công bằng với những giảng viên ở lại, đây những người vẫn đang ngày ngày gánh vác công việc giảng dạy và các nhiệm vụ chuyên môn tại trường.
Do đó, thầy Duy đề xuất có thể cho phép giảng viên được hưởng một tỉ lệ lương cơ bản theo hệ số ngạch, bậc của giảng viên ở mức phù hợp, ví dụ hưởng 60% hay 70% lương cơ bản. Đồng thời, không cắt các phụ cấp phúc lợi, lễ tết vì họ vẫn là giảng viên của trường.
Chính sách hỗ trợ cần được xây dựng linh hoạt, phù hợp với thời gian, địa điểm và tính chất từng chương trình
Tại khoản 2, Điều 11 của dự thảo nêu, khuyến khích cơ sở giáo dục đại học, cơ sở giáo dục nghề nghiệp sử dụng nguồn thu hợp pháp của đơn vị để hỗ trợ thêm cho người học, giảng viên thuộc đối tượng áp dụng.
Về vấn đề này, Tiến sĩ Trần Hữu Duy cho biết, Trường Đại học Đà Lạt đã thực hiện chính sách thúc đẩy phát triển năng lực đội ngũ, đặc biệt là đội ngũ giảng viên có trình độ tiến sĩ cách đây hơn 10 năm. Hiện nay, trường đã bổ sung thêm chính sách giữ chân và thu hút đội ngũ giảng viên có trình độ tiến sĩ trở lên. Tuy nhiên, đối với trường hợp đi trao đổi học thuật, thỉnh giảng ở nước ngoài, đây là một vấn đề mới, nhà trường sẽ nghiên cứu để có chính sách khuyến khích phù hợp trong thời gian tới.
Thầy Duy cũng nhấn mạnh, chương trình cử giảng viên đi trao đổi học thuật ở nước ngoài có vai trò quan trọng nhằm tăng cường kiến thức và kỹ năng, phương pháp làm việc cho giảng viên, đồng thời cũng là tăng cường kết nối, phối hợp trong đào tạo và nghiên cứu khoa học giữa các trường của Việt Nam và các nước phát triển.
Do đó, việc nhà nước ban hành một chính sách để hỗ trợ thúc đẩy là điều rất cần thiết. Bên cạnh hỗ trợ chi phí xứng đáng để giảng viên yên tâm đi nước ngoài của nhà nước, thì các cơ sở đào tạo cũng cần căn cứ trên chiến lược phát triển và nguồn lực của mình để có thêm những chính sách hỗ trợ như khen thưởng, phúc lợi sau khi giảng viên hoàn thành chương trình. Song song với đó, cũng cần chú trọng các chính sách phát triển năng lực nghiên cứu khoa học và đặc biệt là trình độ ngoại ngữ, để việc cử giảng viên đi học tập và trao đổi tại nước ngoài đạt hiệu quả thực chất.
Cùng chung quan điểm, theo thầy Vũ Đức Lung, việc khuyến khích cơ sở giáo dục đại học, cơ sở giáo dục nghề nghiệp sử dụng nguồn thu hợp pháp của đơn vị để hỗ trợ thêm cho người học, giảng viên thuộc đối tượng áp dụng của dự thảo là hợp lý. Điều này tạo hành lang pháp lý để các trường đại học tự chủ mạnh dạn chi cho phát triển đội ngũ giảng dạy. Mỗi trường đều hiểu rõ ngành mũi nhọn và đối tác chiến lược của mình nhất, song, khả năng thực hiện sẽ không đều giữa các trường, nên nhà nước vẫn cần giữ vai trò hỗ trợ chính.
Thầy Lung cho biết, tại Trường Đại học Công nghệ Thông tin, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, nhà trường hiện có đề án hỗ trợ từ năm 2026 đến 2030 với giảng viên đi học và nghiên cứu ở nước ngoài như: phí visa tối đa 3 triệu đồng; vé máy bay không quá 10 triệu đồng cho 1 lượt khứ hồi; chi phí ăn, ở và di chuyển không quá 11 triệu đồng cho 1 chuyến công tác,...Trong đó, đội ngũ giảng dạy các ngành Trí tuệ nhân tạo, An toàn thông tin, Vi mạch bán dẫn được nhà trường ưu tiên chú trọng.
Thầy Lung cũng nhấn mạnh, để tạo điều kiện thuận lợi cho giảng viên đi thỉnh giảng và trao đổi học thuật ở nước ngoài, có 3 điểm cần lưu ý.
Thứ nhất, thủ tục cử đi cần đơn giản, nhanh, nên giao quyền quyết định nhiều hơn cho các trường.
Thứ hai, nên hỗ trợ cả chuyến đi ngắn hạn, vài tuần đến vài tháng, vì đây là hình thức phổ biến nhất với thỉnh giảng và hợp tác nghiên cứu.
Thứ ba, quan trọng nhất là chính sách “sau khi trở về” cho giảng viên. Kết quả chuyến đi cần được truyền lại tới các đối tượng khác trong trường để cải tiến liên tục; ghi nhận vào đánh giá, xét chức danh, gắn với nhiệm vụ nghiên cứu, hợp tác cụ thể. Như vậy mới tạo động lực cho giảng viên yên tâm đi học tập, trao đổi, thỉnh giảng ở nước ngoài và tạo giá trị lâu dài cho nhà trường.
Trong khi đó, theo thầy Lê Đình Lương, quy định khuyến khích các cơ sở giáo dục sử dụng nguồn thu hợp pháp để hỗ trợ thêm cho người học và giảng viên là một định hướng tích cực, phù hợp với tinh thần tự chủ đại học. Chính sách này tạo điều kiện để các trường chủ động xây dựng chế độ đãi ngộ theo khả năng tài chính và chiến lược phát triển đội ngũ, đặc biệt là ưu tiên những ngành, lĩnh vực trọng điểm. Tuy nhiên, việc phân bổ nguồn lực cần gắn với mục tiêu cụ thể và hiệu quả đầu tư, nhằm tạo ra giá trị thiết thực cho hoạt động đào tạo, nghiên cứu và hợp tác quốc tế.
Tại Trường Đại học Công nghệ Thành phố Hồ Chí Minh, nhà trường luôn quan tâm hỗ trợ, tạo điều kiện tối đa để giảng viên thuộc các ngành trọng điểm, mũi nhọn tham gia thỉnh giảng và trao đổi học thuật ở nước ngoài. Tùy theo tính chất từng chương trình và điều kiện thực tế, nhà trường xem xét hỗ trợ kinh phí, chủ động sắp xếp kế hoạch giảng dạy, hỗ trợ thủ tục và phối hợp với đối tác quốc tế nhằm tạo thuận lợi cho giảng viên thực hiện nhiệm vụ. Đồng thời, nhà trường chú trọng bảo đảm các quyền lợi liên quan và ghi nhận kết quả nghiên cứu, hợp tác học thuật trong quá trình đánh giá, phát triển đội ngũ. Các chính sách hỗ trợ này hướng đến việc khuyến khích giảng viên nâng cao năng lực chuyên môn, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo, nghiên cứu và mở rộng hoạt động hợp tác quốc tế của nhà trường.
Thầy Lương cũng cho rằng, chính sách hỗ trợ giảng viên đi học tập, nghiên cứu ở nước ngoài cần được xây dựng linh hoạt, phù hợp với thời gian, địa điểm và tính chất từng chương trình để đội ngũ này có được những điều kiện thuận lợi nhất. Bên cạnh hỗ trợ tài chính, các cơ sở giáo dục đại học cần chủ động sắp xếp kế hoạch giảng dạy, hỗ trợ thủ tục, phối hợp với đối tác quốc tế và bảo đảm các quyền lợi liên quan để giảng viên yên tâm thực hiện nhiệm vụ.
Về chế độ đãi ngộ, các trường cần có chính sách khuyến khích phù hợp, gắn với mục tiêu và kết quả của từng chương trình. Ngoài hỗ trợ kinh phí, nhà trường có thể xem xét chế độ hỗ trợ thu nhập, tạo điều kiện phát triển nghề nghiệp và ghi nhận thành tích học thuật trong công tác đánh giá, khen thưởng. Đặc biệt, các cơ sở giáo dục cần có cơ chế phát huy kiến thức, kinh nghiệm và mạng lưới hợp tác sau khi giảng viên trở về, qua đó chuyển kết quả trao đổi học thuật thành giá trị thiết thực cho hoạt động đào tạo, nghiên cứu và phát triển nhà trường.