Chiều 13/10, tại cơ quan Bộ Giáo dục và Đào tạo, Đoàn giám sát của Ban Bí thư do ông Trịnh Văn Quyết, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương, làm trưởng đoàn, bắt đầu buổi làm việc đầu tiên với Ban Thường vụ Đảng ủy Bộ Giáo dục và Đào tạo về thực hiện Nghị quyết 71 của Bộ Chính trị, chuyên đề công tác giáo dục phổ thông.
Thời kỳ giám sát từ năm 2023 đến ngày 30/9/2026. Việc giám sát hoàn thành trước ngày 15/12/2026. [1]
Đoàn giám sát tập trung làm rõ 4 vấn đề lớn trong đó sẽ có giám sát về thực hiện chương trình giáo dục phổ thông 2018 như: chương trình giáo dục phổ thông từ tiểu học đến trung học phổ thông; đánh giá kỹ tính khoa học, tính kế thừa, tính liên thông giữa các cấp học, mức độ phù hợp với tâm sinh lý học sinh, với điều kiện thực tế của các vùng miền đất nước, những bất cập về tải trọng, giảm tải và về tổ chức dạy học tích hợp lựa chọn, xem sự phù hợp giữa các môn học và chương trình học của các cấp.
Sau 5 năm triển khai Chương trình giáo dục phổ thông 2018, việc rà soát, điều chỉnh chương trình và sách giáo khoa đang nhận được sự quan tâm của đông đảo dư luận và đội ngũ giáo viên. Từ thực tế giảng dạy, nhiều ý kiến cho rằng đổi mới cần được nhìn nhận toàn diện, từ mục tiêu, cấu trúc chương trình, khả năng tổ chức thực hiện tại nhà trường, điều kiện đội ngũ và hiệu quả học tập của học sinh.
Người viết là hiện là cán bộ quản lý, giáo viên công tác nhiều năm cho rằng việc thực hiện chương trình giáo dục phổ thông 2018 có nhiều ưu điểm, phát huy tính tích cực của giáo viên, học sinh nhưng còn 4 vấn đề cần phải được nghiên cứu, điều chỉnh cho phù hợp như sau:
Thứ nhất, đối với Nội dung giáo dục địa phương
Hiện nay, đối với nội dung giáo dục địa phương có 6 chủ đề thuộc 6 môn học khác nhau ở các cấp học, bậc học từ tiểu học đến trung học phổ thông.
Nội dung giáo dục địa phương mỗi tuần chỉ có 1 tiết nhưng do 6 giáo viên giảng dạy, dẫn đến khó khăn trong rất nhiều việc như phân công, đánh giá, sắp xếp thời khóa biểu, đánh giá việc học tập của học sinh,...dẫn đến rất nhiều bất cập.
Thời đại công nghệ, người viết cho rằng đối với Nội dung giáo dục địa phương nên được tích hợp vào các môn học hiện hành, môn học nào cũng phải có nhiệm vụ giáo dục tích hợp tình yêu quê hương đất nước, tự hào truyền thống quê hương,...không cần phải xuất hiện thêm Nội dung giáo dục địa phương dẫn đến rắc rối, phức tạp làm ảnh hưởng đến việc thực hiện chương trình mới.
Thứ hai, đối với môn Hoạt động Trải nghiệm ở cấp tiểu học và Hoạt động Trải nghiệm, hướng nghiệp ở cấp trung học cơ sở, trung học phổ thông
Hiện nay xuyên suốt chương trình giáo dục phổ thông 2018, đối với môn Hoạt động Trải nghiệm ở cấp tiểu học và Hoạt động Trải nghiệm, hướng nghiệp ở cấp trung học cơ sở, trung học phổ thông được bố trí 105 tiết/năm học, tương ứng 3 tiết/tuần được phân bố 1 tiết sinh hoạt dưới cờ, 1 tiết sinh hoạt chủ nhiệm và 1 tiết dạy theo chủ đề.
Do không có giáo viên chuyên môn nên môn này thường giao cho giáo viên chủ nhiệm thực hiện. Theo quy định, giáo viên chủ nhiệm được giảm 4 tiết/tuần, nếu thực hiện thêm 3 tiết hoạt động Trải nghiệm, hướng nghiệp sẽ được giảm tổng cộng 7 tiết/tuần, trong đó 2 nội dung sinh hoạt dưới cờ, sinh hoạt lớp còn trùng lắp giữa tiết truyền thống và tiết dạy theo chương trình giáo dục phổ thông mới.
Người viết cho rằng, nên nghiên cứu tinh gọn môn Hoạt động trải nghiệm, đối với nội dung sinh hoạt lớp, sinh hoạt dưới cờ nên giao cho giáo viên chủ nhiệm, ban giám hiệu và các bộ phận phối hợp thực hiện. Môn Hoạt động Trải nghiệm ở cấp tiểu học và Hoạt động Trải nghiệm, hướng nghiệp ở cấp trung học cơ sở, trung học phổ thông chỉ nên còn 1 tiết tuần và phân công các giáo viên am hiểu công nghệ số, trí tuệ nhân tạo thực hiện kết hợp với lồng ghép kỹ năng sống, hướng nghiệp hoặc đào tạo giáo viên chuyên môn để thực hiện tốt nội dung này.
Thứ ba, cần đánh giá tổng thể, thấu đáo về những bất cập 2 môn tích hợp ở cấp trung học cơ sở
Người viết là phó hiệu trưởng, nhiều năm làm tổ trưởng chuyên môn, trực tiếp dạy các phân môn trong môn Khoa học tự nhiên cho rằng dù mang kỳ vọng lớn về việc giúp học sinh có cái nhìn tổng thể, liên ngành, nhưng thực tế triển khai môn Khoa học tự nhiên (Vật lý, Hóa học, Sinh học) và môn Lịch sử và Địa lý ở cấp trung học cơ sở đang gặp phải những rào cản mang tính nội tại.
Nhiều bất cập, rào cản hiện hữu như:
Sự "tích hợp" mang tính cơ học, hình thức: Trên thực tế, thay vì tích hợp sâu sắc về mặt tư duy, các môn học này đang bị thực hiện theo kiểu "lắp ghép cơ học". Sách giáo khoa vẫn chia thành các phân môn rõ rệt. Giáo viên Vật lý vẫn dạy phần Vật lý, giáo viên Hóa học dạy phần Hóa học,... Điều này dẫn đến sự rời rạc trong mạch kiến thức, học sinh không thấy được sự liên thông mà chỉ thấy sự quá tải do phải đối phó với nhiều phân môn trong cùng một mã định danh môn học.
Một giáo viên không thể gánh 2,3 phân môn: Đây là vấn đề cốt lõi nhất. Chúng ta đang yêu cầu một giáo viên được đào tạo chuyên sâu về Vật lý phải dạy tốt cả Hóa học và Sinh học (hoặc ngược lại). Dù Bộ Giáo dục và Đào tạo đã tổ chức các lớp bồi dưỡng chứng chỉ ngắn hạn, nhưng kiến thức chuyên môn không thể được "nhồi nhét" trong vài tháng để đạt đến trình độ sư phạm vững vàng. Giáo viên thiếu tự tin khi đứng lớp ở phân môn không phải sở trường, dẫn đến dạy hời hợt, chỉ dám dạy "theo sách", không thể giải đáp sâu các thắc mắc của học sinh.
Bất cập trong kiểm tra, đánh giá và xếp thời khóa biểu: Việc xếp thời khóa biểu cho các môn tích hợp gây nhiều khó khăn đối với các nhà quản lý trường học, giáo viên và học sinh. Việc đổi thời khóa biểu nhiều lần khiến tính ổn định của thời khóa biểu không có, học sinh dễ xao nhãng. Phải điều phối giáo viên sao cho khớp với các mạch nội dung trong sách giáo khoa là khá khó khăn. Bên cạnh đó, việc ra đề kiểm tra chung cho một môn có 2-3 phân môn thường dẫn đến tình trạng mất cân đối, gây áp lực tâm lý cho cả người dạy và người học khi điểm số bị cào bằng, học sinh không biết mình có thế mạnh, điểm yếu ở phân môn nào để định hướng chọn môn, chọn tổ hợp và định hướng nghề nghiệp khi vào cấp trung học phổ thông.
Bất cập tiếp theo nằm ở khâu kiểm tra và đánh giá định kỳ. Theo Thông tư 22/2021/TT-BGDĐT, mỗi môn học chỉ có một đầu điểm tổng kết. Điều này tạo ra sự rắc rối trong khâu ra đề và chấm bài. Một bài kiểm tra môn Khoa học tự nhiên phải gánh cả 3 phân môn với tỷ lệ điểm thường được chia theo thời lượng tiết học (ví dụ 33% Vật lý, 33% Hóa học, 34% Sinh học). Việc chấm bài trở thành một quy trình phức tạp: 3 giáo viên cùng chấm một tờ giấy thi, sau đó mới tổng hợp điểm. Điều này không chỉ gây áp lực hành chính mà còn làm loãng nhận xét chuyên môn đối với từng học sinh.
Áp lực thi chuyển cấp: Đây là nỗi lo lớn của phụ huynh và học sinh lớp 9. Trong khi chương trình học là tích hợp, nhưng đề thi tuyển sinh vào lớp 10 tại nhiều tỉnh, thành phố vẫn đang lúng túng giữa việc thi từng môn riêng lẻ hay thi một bài thi tổng hợp. Sự không đồng bộ giữa cách dạy (tích hợp) và cách thi (đơn môn) khiến học sinh rơi vào trạng thái "học một đằng, thi một nẻo".
Môn tích hợp, đặc biệt là Khoa học tự nhiên, đòi hỏi tính thực hành rất cao. Tuy nhiên, hạ tầng giáo dục hiện nay chưa kịp chuyển mình để đáp ứng yêu cầu của chương trình mới. Nhiều trường học, đặc biệt là ở vùng sâu, vùng xa, phòng thí nghiệm vẫn được thiết kế theo lối cũ (phòng Vật lý riêng, phòng Hóa - Sinh riêng) với trang thiết bị thiếu đồng bộ, cũ kỹ. Khi dạy các bài học mang tính liên môn, giáo viên rất khó tìm được không gian thực hành phù hợp.
Sách giáo khoa còn nặng tính cơ học: Sách giáo khoa hiện nay dù đã gộp các chương vào cùng một quyển nhưng sự liên kết giữa các mạch nội dung vẫn còn lỏng lẻo. Các chủ đề tích hợp (như biến đổi khí hậu, năng lượng bền vững) thường chỉ xuất hiện ở cuối chương trình hoặc được trình bày rời rạc, chưa thực sự tạo ra một hệ thống kiến thức xuyên suốt để học sinh hình thành tư duy tổng thể.
Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 là một nỗ lực tiến bộ đáng trân trọng của ngành giáo dục. Tuy nhiên, một số bất cập đã nảy sinh trong thực tế cần có những đánh giá thực tiễn và có hướng điều chỉnh phù hợp có căn cứ khoa học rõ ràng.
Thứ tư, về việc lựa chọn môn học ở cấp trung học phổ thông
Về ưu điểm, việc tổ chức cho học sinh lựa chọn môn học ở cấp trung học phổ thông theo định hướng của Chương trình giáo dục phổ thông năm 2018 tạo điều kiện để các em phát huy sở trường, năng lực và hứng thú cá nhân. Qua đó, học sinh có thể định hướng nghề nghiệp sớm, tập trung đầu tư vào những lĩnh vực phù hợp với dự định học tập sau phổ thông, góp phần nâng cao tính chủ động và cá thể hóa quá trình giáo dục.
Tuy nhiên, thực tiễn triển khai cho thấy việc lựa chọn môn học vẫn còn những hạn chế cần được nhìn nhận một cách thẳng thắn. Trước hết, quyền lựa chọn của học sinh trên thực tế chưa hoàn toàn được bảo đảm. Việc lựa chọn thường phụ thuộc vào điều kiện đội ngũ giáo viên, cơ sở vật chất, khả năng tổ chức các nhóm môn học và phương án bố trí lớp của từng trường. Vì vậy, có trường hợp học sinh phải lựa chọn trong những phương án nhà trường có thể tổ chức, thay vì được lựa chọn môn học thực sự phù hợp với năng lực, sở thích và định hướng nghề nghiệp của bản thân. Như vậy, mục tiêu phát huy quyền chủ động của người học có thể chưa đạt được như kỳ vọng.
Một hạn chế đáng quan tâm khác là sự khác biệt về tổ hợp môn học giữa các trường gây khó khăn cho việc chuyển trường và tiếp tục học tập. Học sinh có thể lựa chọn một nhóm môn học ở trường đang theo học, nhưng khi gia đình thay đổi nơi cư trú hoặc học sinh có nhu cầu chuyển sang trường khác, trường tiếp nhận có thể không tổ chức nhóm môn học tương ứng. Sự khác biệt về các môn đã học khiến học sinh phải bổ sung kiến thức, điều chỉnh kế hoạch học tập hoặc đối mặt với những khó khăn trong việc bảo đảm yêu cầu chương trình. Trong một số trường hợp, việc chuyển trường không chỉ là thủ tục hành chính mà còn trở thành trở ngại thực sự đối với quyền tiếp cận giáo dục liên tục của học sinh. Điều này đặt ra yêu cầu phải có cơ chế chuyển đổi môn học, bổ sung kiến thức và công nhận kết quả học tập thống nhất, khả thi giữa các cơ sở giáo dục.
Việc tổ chức các nhóm môn học khác nhau giữa các trường còn gây khó khăn cho công tác dự báo và phát triển đội ngũ giáo viên. Khi mỗi trường có phương án lựa chọn môn học riêng, nhu cầu giáo viên đối với từng môn có thể biến động đáng kể giữa các địa phương và giữa các năm học. Có trường thiếu giáo viên ở một số môn, trong khi trường khác lại không đủ số lượng học sinh đăng ký để tổ chức lớp học tương ứng.
Tình trạng này khiến việc tuyển dụng, điều động và sử dụng giáo viên khó đạt hiệu quả tối ưu. Đáng chú ý, các cơ sở đào tạo giáo viên cũng khó dự báo chính xác nhu cầu nhân lực theo từng môn học trong trung và dài hạn nếu thiếu dữ liệu tổng hợp, ổn định về xu hướng lựa chọn môn học của học sinh. Hệ quả có thể là ngành giáo dục vừa thiếu giáo viên ở những môn cần thiết, vừa có nguy cơ đào tạo chưa phù hợp với nhu cầu thực tế.
Một vấn đề nữa là sự khác biệt về điều kiện tổ chức dạy học có thể làm gia tăng chênh lệch cơ hội giáo dục giữa các trường và địa phương. Những trường có đội ngũ giáo viên đầy đủ, cơ sở vật chất tốt và quy mô học sinh lớn thường có nhiều khả năng tổ chức các phương án môn học hơn.
Ngược lại, các trường có quy mô nhỏ, ở địa bàn khó khăn hoặc thiếu giáo viên có thể chỉ tổ chức được một số phương án nhất định. Khi đó, quyền lựa chọn môn học của học sinh không chỉ phụ thuộc vào năng lực và nguyện vọng cá nhân mà còn chịu tác động từ điều kiện kinh tế - xã hội và năng lực tổ chức của nhà trường. Nếu không có giải pháp hỗ trợ phù hợp, chủ trương cá thể hóa giáo dục có thể dẫn đến sự khác biệt đáng kể về cơ hội học tập giữa học sinh ở các địa bàn.
Tài liệu tham khảo:
[1] https://vnexpress.net/ban-bi-thu-giam-sat-4-van-de-lon-ve-giao-duc-pho-thong-5131849.html
(*) Văn phong, nội dung bài viết thể hiện góc nhìn, quan điểm của tác giả.