Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành văn bản số 7314/BGDĐT-GDĐH về việc thực hiện nhiệm vụ năm học 2026 - 2027 đối với giáo dục đại học, cao đẳng sư phạm.
Đáng chú ý, Bộ đề nghị các cơ sở giáo dục rà soát quy định kiểm tra, đánh giá và xếp loại tốt nghiệp. Phân tích phân bố điểm học phần, kết quả học tập, xếp loại tốt nghiệp theo ngành, khóa và hình thức đào tạo; đối chiếu với mức đạt chuẩn đầu ra, phản hồi doanh nghiệp để phát hiện, kiểm tra và xử lý lạm phát điểm số. Không áp đặt tỷ lệ điểm hoặc tỷ lệ tốt nghiệp giỏi, xuất sắc; không hạ chuẩn để tăng thành tích.
Chuẩn đầu ra phải là căn cứ xuyên suốt cho toàn bộ quá trình đào tạo
Nêu nguyên tắc đánh giá người học, trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Ông Văn Năm - Trưởng phòng Phòng Khảo thí và Đảm bảo chất lượng, Trường Đại học Ngân hàng Thành phố Hồ Chí Minh chỉ ra, đánh giá người học phải được đặt trong một quy trình thống nhất, xuyên suốt từ thiết kế chương trình đào tạo, tổ chức giảng dạy, phương pháp kiểm tra, đánh giá đến thang đo và cách sử dụng kết quả đánh giá.
Một trong những nguyên nhân dẫn đến việc có sinh viên đạt kết quả học tập cao nhưng năng lực thực tế chưa tương xứng là yêu cầu đánh giá chưa đủ thách thức, hoặc việc đánh giá vẫn thiên về từng học phần riêng lẻ, chưa đo lường đầy đủ mức độ đáp ứng chuẩn đầu ra của toàn chương trình.
Chuẩn đầu ra không chỉ là nội dung được công bố trong chương trình đào tạo mà phải trở thành căn cứ xuyên suốt cho toàn bộ quá trình đào tạo. Khi chuẩn đầu ra được cụ thể hóa trong từng học phần, từng hình thức đánh giá và từng câu hỏi thi, nhà trường mới có đủ cơ sở để khẳng định chất lượng đào tạo một cách khách quan, thuyết phục".
Được biết, tại Trường Đại học Ngân hàng Thành phố Hồ Chí Minh, cách tiếp cận này được triển khai theo hướng chặt chẽ, có kiểm soát. Nhà trường thành lập hội đồng đánh giá ngân hàng câu hỏi thi ở hai cấp: cấp khoa/bộ môn và cấp trường. Mỗi câu hỏi trong ngân hàng phải bám sát đề cương chi tiết học phần, giáo trình đồng thời xác định rõ dùng để đo lường chuẩn đầu ra nào của học phần. Nhờ đó, hoạt động kiểm tra, đánh giá tránh được tình trạng chung chung, hình thức và tiến gần hơn đến mục tiêu đo lường đúng năng lực người học.
Chẳng hạn, với một đề thi gồm 50 câu hỏi, nhà trường xác định trước cơ cấu số câu hỏi tương ứng với từng chuẩn đầu ra, tức là ma trận đề thi. Khi đề thi được tạo trên hệ thống phần mềm, câu hỏi được rút từ ngân hàng theo đúng ma trận đã thiết kế, bảo đảm tính bao quát, hợp lý và công bằng giữa các đề. Với cách làm này, ngân hàng câu hỏi không chỉ là kho đề phục vụ thi cử mà trở thành công cụ quan trọng để kiểm soát chất lượng đào tạo.
Nhà trường cũng chú trọng cả quy mô và chất lượng ngân hàng câu hỏi. Ngân hàng câu hỏi phải đủ lớn và được cập nhật thường xuyên để hạn chế lặp lại đề thi, tránh việc sinh viên học thuộc đáp án mà không hiểu bản chất kiến thức.
Từ kết quả đánh giá, đơn vị tiếp tục phân tích, đo lường và đưa ra khuyến nghị để các khoa rà soát, điều chỉnh hoạt động đào tạo. Cần nhìn nhận, với những học phần có điểm số quá cao, nhà trường không vội xem đó là thành công, mà đặt vấn đề kiểm tra lại mức độ phù hợp của đề thi, yêu cầu đánh giá và mức độ đáp ứng chuẩn đầu ra thực tế của sinh viên.
Cách làm này thể hiện tư duy bảo đảm chất lượng hiện đại: kết quả đánh giá không chỉ dùng để xếp loại sinh viên mà còn là dữ liệu phản hồi để cải tiến chương trình đào tạo, phương pháp giảng dạy và chính hoạt động kiểm tra, đánh giá.
Thầy Năm cho biết thêm, trước sự phát triển nhanh của AI, nhà trường đã ban hành quy định hướng dẫn sinh viên sử dụng AI đúng cách, trong đó yêu cầu sinh viên khai báo việc sử dụng AI, nêu rõ phạm vi và mục đích sử dụng. Hướng tiếp cận trên không chỉ nhằm quản lý rủi ro mà quan trọng hơn là định hướng để sinh viên khai thác công nghệ phục vụ học tập một cách có trách nhiệm, bảo đảm liêm chính học thuật. Phòng Khảo thí và Đảm bảo chất lượng cũng đang nghiên cứu xây dựng mô hình phòng ngừa và xử lý hành vi gian lận học thuật có sử dụng AI tại trường.
Đồng thời, nhà trường nghiên cứu ứng dụng AI trong công tác kiểm tra, đánh giá, trong đó có việc hỗ trợ xây dựng đề thi và câu hỏi kiểm tra, với nguyên tắc mọi câu hỏi do AI hỗ trợ tạo ra đều phải được giảng viên thẩm định và hội đồng xem xét trước khi đưa vào ngân hàng câu hỏi.
Cùng bàn luận về nội dung này, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Phúc Hiền - Giám đốc Trung tâm Khảo thí và Đảm bảo chất lượng, Trường Đại học Ngoại thương nhận định, chất lượng thực chất của một sinh viên tốt nghiệp đại học trước hết phải được thể hiện ở khả năng vận dụng kiến thức, kỹ năng và phẩm chất đã được hình thành trong quá trình đào tạo để giải quyết hiệu quả những vấn đề của thực tiễn, không đơn thuần được phản ánh qua điểm số hay xếp loại tốt nghiệp.
Một sinh viên tốt nghiệp có chất lượng thực chất cần hội tụ một số nhóm năng lực cốt lõi: năng lực chuyên môn vững vàng; năng lực tư duy độc lập, phản biện và sáng tạo; năng lực giải quyết vấn đề trong những bối cảnh mới; năng lực tự học và học tập suốt đời; năng lực thích ứng với công nghệ, nhất là trí tuệ nhân tạo; cùng với ý thức trách nhiệm, đạo đức nghề nghiệp và khả năng hợp tác.
Dưới góc độ khảo thí và bảo đảm chất lượng, điểm số là một chỉ báo quan trọng nhưng không phải là thước đo duy nhất, càng không phải là bằng chứng đầy đủ về chất lượng đào tạo. Một sinh viên đạt điểm cao chưa chắc đã có khả năng vận dụng tốt kiến thức vào thực tiễn nếu hoạt động kiểm tra, đánh giá chủ yếu dừng ở mức ghi nhớ và hiểu.
Vì vậy, các cơ sở giáo dục đại học cần tiếp tục đổi mới phương pháp đánh giá theo hướng tiếp cận năng lực và chuẩn đầu ra, tăng cường những hình thức đánh giá đòi hỏi sinh viên phải phân tích, phản biện, giải quyết tình huống, thực hiện dự án, nghiên cứu và bảo vệ quan điểm cá nhân. Đồng thời, cần kết hợp kết quả đánh giá trong quá trình học tập với những minh chứng về năng lực thực hành, nghiên cứu, sáng tạo và khả năng đáp ứng yêu cầu của nhà tuyển dụng.
Đặc biệt, các trường cần thường xuyên phân tích phổ điểm, tỷ lệ sinh viên đạt loại giỏi, xuất sắc, đối chiếu với mức độ khó của đề thi, chuẩn đầu ra học phần và kết quả đánh giá năng lực thực tế. Tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp xuất sắc cao không nhất thiết đồng nghĩa với việc chất lượng đánh giá chưa nghiêm túc, nhưng đó là một tín hiệu cần được phân tích và kiểm chứng một cách khoa học.
Dưới góc nhìn của Thạc sĩ Trần Minh Đàn - Trưởng phòng Phòng Bảo đảm chất lượng và Khảo thí, Trường Đại học Bình Dương: "Chất lượng thực chất của sinh viên tốt nghiệp thể hiện ở kiến thức vững chắc, tư duy độc lập, năng lực giải quyết vấn đề, kỹ năng thực hành, đạo đức nghề nghiệp và khả năng thích ứng. Muốn đánh giá đúng sinh viên xuất sắc, cần kết hợp điểm số với sản phẩm thực tế, dự án, nghiên cứu khoa học và khả năng vận dụng kiến thức vào giải quyết các vấn đề thực tiễn.
Trong thời đại AI, sinh viên vẫn phải tự hình thành tư duy phản biện, khả năng sáng tạo, năng lực tự học, phán đoán và trách nhiệm với quyết định của mình. Các cơ sở giáo dục cần đổi mới phương pháp dạy học, tăng cường học qua dự án, giải quyết tình huống thực tế và hướng dẫn sinh viên sử dụng AI có trách nhiệm, thay vì phụ thuộc vào AI".
Nghiên cứu khoa học cần được xem là một cấu phần quan trọng
Đề cập tới vấn đề nghiên cứu khoa học sinh viên, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Phúc Hiền nhấn mạnh nghiên cứu khoa học cần được xem là một cấu phần quan trọng, gắn kết chặt chẽ với quá trình đào tạo đại học, không chỉ là hoạt động dành riêng cho một bộ phận sinh viên có thành tích học tập tốt hoặc có định hướng nghiên cứu chuyên sâu.
Giá trị quan trọng nhất của nghiên cứu khoa học đối với sinh viên không chỉ nằm ở số lượng đề tài, bài báo hay giải thưởng đạt được, mà là quá trình hình thành tư duy khoa học, khả năng đặt câu hỏi, phát hiện vấn đề, tìm kiếm bằng chứng, phân tích, phản biện và đưa ra những kết luận có cơ sở.
Thông qua nghiên cứu khoa học, sinh viên được chuyển từ vị trí tiếp nhận tri thức một cách thụ động sang chủ động khám phá, kiểm chứng và từng bước tạo ra tri thức mới. Đây cũng chính là những năng lực cốt lõi mà giáo dục đại học cần hình thành, đặc biệt trong bối cảnh AI có thể hỗ trợ con người xử lý khối lượng thông tin ngày càng lớn.
Thầy Phúc bày tỏ: "Từ góc độ bảo đảm chất lượng, tôi cho rằng cần tích hợp hoạt động nghiên cứu vào quá trình đào tạo theo một lộ trình phù hợp. Ngay từ những năm đầu, sinh viên cần được rèn luyện phương pháp tư duy khoa học, kỹ năng tìm kiếm và tổng quan tài liệu, đặt câu hỏi nghiên cứu. Ở những năm tiếp theo, cần tăng cường các bài tập dự án, nghiên cứu tình huống, nghiên cứu ứng dụng và tạo điều kiện để sinh viên tham gia các nhóm nghiên cứu cùng giảng viên.
Cùng với đó, các cơ sở giáo dục đại học cần xây dựng cơ chế ghi nhận và đánh giá năng lực nghiên cứu của sinh viên trong hệ thống chuẩn đầu ra của chương trình đào tạo. Việc đánh giá không nên chỉ dựa vào sản phẩm cuối cùng mà cần quan tâm đến quá trình nghiên cứu, tính độc lập trong tư duy, chất lượng lập luận, phương pháp tiếp cận và khả năng vận dụng kết quả nghiên cứu.
Nhất là cần thúc đẩy sự gắn kết giữa nghiên cứu khoa học với những vấn đề thực tiễn của doanh nghiệp, nền kinh tế và xã hội. Điều này giúp sinh viên nhận thức được rằng nghiên cứu khoa học không phải là hoạt động xa rời thực tế mà chính là phương thức để nhận diện và giải quyết những vấn đề thực tiễn một cách khoa học".
Để nâng cao chất lượng đào tạo, thầy Hiền chỉ ra các trường đại học cần có những thay đổi mang tính hệ thống, từ tư duy quản trị chất lượng, thiết kế chương trình đào tạo, phương pháp giảng dạy đến tổ chức kiểm tra, đánh giá và đo lường kết quả đầu ra.
Trước hết, cần chuyển từ tư duy chú trọng kết quả điểm số sang tư duy quản trị chất lượng dựa trên năng lực thực chất của người học. Chất lượng đào tạo không nên chỉ được nhìn nhận thông qua tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp đúng hạn, tỷ lệ tốt nghiệp loại giỏi, xuất sắc, mà cần được đánh giá thông qua mức độ đạt chuẩn đầu ra, năng lực chuyên môn, khả năng thích ứng, sáng tạo và những đóng góp của người học sau khi tốt nghiệp.
Song song với đó, cần tiếp tục rà soát, đổi mới chương trình đào tạo theo hướng tăng tính học thuật, phát triển tư duy bậc cao và gắn kết với thực tiễn. Chương trình đào tạo cần tạo ra môi trường để sinh viên phải thực sự nỗ lực, chủ động học tập, nghiên cứu và vượt qua những yêu cầu học thuật ngày càng cao. Tuy nhiên, tăng tính học thuật không có nghĩa là đơn thuần tăng khối lượng kiến thức hay độ khó của đề thi, quan trọng là nâng cao yêu cầu về tư duy, khả năng vận dụng và sáng tạo.
Ngoài ra, đổi mới công tác khảo thí và đánh giá kết quả học tập phải được coi là một trong những giải pháp mang tính đột phá. Khi phương pháp đánh giá thay đổi, cách dạy và cách học cũng sẽ thay đổi. Các trường cần xây dựng hệ thống đánh giá dựa trên chuẩn đầu ra, sử dụng các công cụ đánh giá phù hợp với từng cấp độ năng lực, tăng cường đánh giá quá trình, đánh giá thực hành và đánh giá khả năng giải quyết vấn đề thực tiễn.
Cần thực hiện phân tích dữ liệu đánh giá một cách thường xuyên, bao gồm phổ điểm, mức độ phân hóa của đề thi, tỷ lệ đạt chuẩn đầu ra và sự tương quan giữa kết quả học tập với năng lực thực tế của sinh viên. Qua đó, kịp thời nhận diện những bất cập trong chương trình, phương pháp giảng dạy và hoạt động kiểm tra, đánh giá để có giải pháp cải tiến.
Đồng thời, phát huy vai trò của hệ thống bảo đảm chất lượng bên trong, hướng tới xây dựng văn hóa chất lượng trong mỗi cơ sở giáo dục đại học. Bảo đảm chất lượng phải trở thành một quá trình thường xuyên, dựa trên dữ liệu và minh chứng để cải tiến chất lượng đào tạo.
Trong đó, cần đặc biệt coi trọng việc thu thập phản hồi của sinh viên, giảng viên, cựu sinh viên và nhà tuyển dụng; theo dõi kết quả việc làm và sự phát triển nghề nghiệp của người học; sử dụng những thông tin này để điều chỉnh chương trình và phương pháp đào tạo.
Cuối cùng, các trường cần xây dựng môi trường học thuật khuyến khích sự nỗ lực, tinh thần tự học, nghiên cứu, đổi mới sáng tạo và trách nhiệm cá nhân. Sinh viên phải được tạo điều kiện và có động lực để không chỉ học nhằm đạt điểm cao, mà còn học để hiểu sâu, làm chủ kiến thức, phát triển năng lực và tạo ra những giá trị mới cho bản thân và xã hội.
Theo quan điểm của Thạc sĩ Thái Minh Đàn: "Hoạt động nghiên cứu khoa học cần được xem là một bộ phận quan trọng của đào tạo đại học, không chỉ dành cho những sinh viên có thành tích cao. Thông qua nghiên cứu, sinh viên học cách đặt câu hỏi, kiểm chứng thông tin, phản biện và tạo ra tri thức mới. Vì vậy, cần đưa hoạt động nghiên cứu vào học phần, đồ án, khóa luận và tạo cơ hội để sinh viên tham gia các đề tài cùng giảng viên.
Để tạo ra một thế hệ sinh viên thực sự xuất sắc, các trường cần chuyển từ đào tạo thiên về truyền thụ kiến thức và đánh giá bằng điểm số sang phát triển năng lực và tạo ra giá trị. Điều đó đòi hỏi đổi mới chương trình, phương pháp giảng dạy và kiểm tra đánh giá; tăng cường gắn kết với doanh nghiệp, thực tiễn và nghiên cứu khoa học. Mục tiêu cuối cùng không chỉ là sinh viên biết nhiều, mà phải biết vận dụng, sáng tạo và tạo ra những giá trị có ích cho xã hội".