Bộ GD&ĐT quy định chi tiết chuẩn đào tạo 8 ngành thuộc lĩnh vực Sản xuất và chế biến

19/10/2026 14:10
Doãn Nhàn

GDVN - Theo Quyết định số 3026/QĐ-BGDĐT, các cơ sở đào tạo phải rà soát, cập nhật chương trình thuộc lĩnh vực Sản xuất và chế biến trong thời hạn 24 tháng, bảo đảm đáp ứng chuẩn chương trình đào tạo mới.

Đây là nội dung theo Quyết định số 3026/QĐ-BGDĐT về Chuẩn chương trình đào tạo lĩnh vực Sản xuất và chế biến trình độ đại học, thạc sĩ và tiến sĩ, do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành.

Theo quyết định,chuẩn chương trình đào tạo lĩnh vực Sản xuất và chế biến trình độ đại học, thạc sĩ và tiến sĩ là những yêu cầu chung tối thiểu áp dụng đối với tất cả các chương trình đào tạo của các ngành trình độ đại học, thạc sĩ và tiến sĩ theo quy định hiện hành để đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, có kỹ năng nghề nghiệp, tư duy đổi mới và đáp ứng yêu cầu phát triển của doanh nghiệp và thị trường lao động.

Chuẩn chương trình đào tạo bao gồm các yêu cầu về mục tiêu, chuẩn đầu ra, chuẩn đầu vào, khối lượng học tập tối thiểu, cấu trúc, nội dung, phương pháp giảng dạy và đánh giá kết quả học tập, các điều kiện thực hiện chương trình để bảo đảm chất lượng đào tạo.

Tám ngành đào tạo thuộc lĩnh vực Sản xuất và chế biến

Theo danh mục ban hành kèm quyết định, lĩnh vực Sản xuất và chế biến gồm 8 ngành thuộc 3 nhóm như sau:

Về khối lượng học tập, chuẩn quy định chương trình đào tạo trình độ đại học cấp bằng cử nhân và chương trình đào tạo chuyên sâu cấp bằng kỹ sư bậc 6 có khối lượng tối thiểu 120 tín chỉ đối với người học đã tốt nghiệp trung học phổ thông. Khối lượng này không bao gồm giáo dục thể chất và giáo dục quốc phòng - an ninh theo quy định hiện hành.

Đối với chương trình đào tạo chuyên sâu cấp bằng kỹ sư bậc 7, người học đã tốt nghiệp trung học phổ thông phải hoàn thành tối thiểu 150 tín chỉ. Người đã tốt nghiệp đại học cấp bằng cử nhân phải hoàn thành tối thiểu 30 tín chỉ. Cơ sở đào tạo quyết định khối lượng học tập tăng thêm để bảo đảm chương trình đáp ứng chuẩn đầu ra kỹ sư bậc 7 và yêu cầu về ngoại ngữ theo quy định hiện hành.

Ở trình độ thạc sĩ, khối lượng học tập tối thiểu đối với người học có đầu vào trình độ đại học là 60 tín chỉ với định hướng nghiên cứu và 45 tín chỉ với định hướng ứng dụng.

Với người học có đầu vào tốt nghiệp trung học phổ thông, chương trình thạc sĩ định hướng nghiên cứu có khối lượng tối thiểu 162 tín chỉ, bao gồm cả chương trình tích hợp cấp bằng thạc sĩ; định hướng ứng dụng tối thiểu 150 tín chỉ, bao gồm cả chương trình đào tạo chuyên sâu. Hai mức này không bao gồm giáo dục thể chất, giáo dục quốc phòng - an ninh theo quy định đối với trường hợp được nêu trong chuẩn.

Đối với chương trình tiến sĩ, khối lượng học tập tối thiểu là 90 tín chỉ với người học có đầu vào trình độ bậc 7 và 135 tín chỉ với người có trình độ đầu vào bậc 6 theo Khung trình độ quốc gia Việt Nam.

Quy định điều kiện đầu vào thạc sĩ, tiến sĩ

Ảnh minh họa: Trường Đại học Công thương Thành phố Hồ Chí Minh
Ảnh minh họa: Trường Đại học Công thương Thành phố Hồ Chí Minh

Đối với tuyển sinh trình độ đại học, người học phải tốt nghiệp trung học phổ thông hoặc trình độ tương đương theo quy định hiện hành. Cơ sở đào tạo quy định chuẩn đầu vào cụ thể dựa trên các hình thức như đánh giá hồ sơ dự tuyển, kết quả kỳ thi đánh giá năng lực, điểm tốt nghiệp trung học phổ thông hoặc yêu cầu tối thiểu về kiến thức phù hợp với từng ngành và định hướng đào tạo.

Với chương trình thạc sĩ, người học phải tốt nghiệp đại học hoặc có văn bằng ở trình độ bậc 6 theo Khung trình độ quốc gia Việt Nam, phù hợp với ngành đăng ký dự tuyển và có nền tảng chuyên môn cần thiết.

Riêng chương trình thạc sĩ định hướng nghiên cứu, người học phải tốt nghiệp đại học xếp hạng khá trở lên hoặc có công bố khoa học liên quan đến lĩnh vực, ngành liên quan theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo và cơ sở đào tạo. Người học cũng phải có trình độ ngoại ngữ phù hợp theo quy định hiện hành.

Đối với tuyển sinh tiến sĩ, người học phải tốt nghiệp thạc sĩ hoặc có văn bằng trình độ bậc 7; hoặc tốt nghiệp đại học xếp loại giỏi trở lên, phù hợp với ngành đăng ký dự tuyển và có nền tảng chuyên môn cần thiết.

Người dự tuyển tiến sĩ phải có năng lực ngoại ngữ bậc 4 theo Khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc dùng cho Việt Nam; có năng lực, kinh nghiệm nghiên cứu thể hiện qua luận văn thạc sĩ định hướng nghiên cứu, bài báo hoặc báo cáo khoa học đã công bố, hoặc có thời gian công tác từ 2 năm (24 tháng) trở lên là giảng viên, nghiên cứu viên tại cơ sở đào tạo, tổ chức khoa học và công nghệ. Đồng thời, người dự tuyển phải có dự thảo đề cương nghiên cứu và dự kiến kế hoạch học tập, nghiên cứu toàn khóa.

Nghiên cứu sinh phải đáp ứng yêu cầu công bố khoa học

Chuẩn chương trình đào tạo tiến sĩ quy định cấu trúc gồm các học phần bổ sung, học phần chính thức, chuyên đề nghiên cứu và luận án tiến sĩ.

Đối với người học có trình độ đầu vào bậc 7, tổng khối lượng học tập của các học phần trong chương trình đào tạo tiến sĩ không vượt quá 16 tín chỉ. Với người có trình độ đầu vào bậc 6, tổng khối lượng học tập của các học phần tối thiểu 30 tín chỉ.

Các chuyên đề nghiên cứu và luận án tiến sĩ là phần trọng tâm, chiếm tối thiểu 80% tổng khối lượng học tập của chương trình. Công bố khoa học, kết quả nghiên cứu hoặc sản phẩm sử dụng để đáp ứng yêu cầu đánh giá luận án phải liên quan trực tiếp đến nội dung nghiên cứu của luận án và được công bố, xuất bản hoặc được cơ quan, tổ chức có thẩm quyền chấp nhận trước thời điểm tổ chức đánh giá luận án tại cơ sở đào tạo.

Về công bố khoa học, nghiên cứu sinh phải là tác giả đứng tên đầu hoặc tác giả liên hệ của các công bố gồm: một bài báo khoa học hoặc báo cáo hội nghị khoa học được công bố trong các ấn phẩm thuộc danh mục Web of Science (WoS)/Scopus, hoặc chương sách tham khảo do nhà xuất bản quốc tế có uy tín phát hành, hoặc là tác giả, đồng tác giả của một kết quả nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ đã được cấp bằng độc quyền sáng chế hoặc giải pháp hữu ích trong nước hoặc quốc tế.

Bên cạnh đó, nghiên cứu sinh phải có hai bài báo đăng trên tạp chí khoa học trong nước thuộc danh mục tạp chí khoa học quốc gia loại I theo tiêu chuẩn khoa học Việt Nam do Bộ Khoa học và Công nghệ công bố hằng năm. Các bài báo khoa học, báo cáo hội nghị khoa học phải được tập thể người hướng dẫn chấp thuận.

Quy định cụ thể về đội ngũ giảng viên ở từng trình độ

Ảnh minh họa: Giảng viên và sinh viên Trường Đại học Công nghiệp và Thương mại Hà Nội
Ảnh minh họa: Giảng viên và sinh viên Trường Đại học Công nghiệp và Thương mại Hà Nội

Chuẩn yêu cầu chương trình đào tạo phải có đội ngũ giảng viên và nhân sự hỗ trợ đáp ứng yêu cầu tổ chức thực hiện chương trình, bảo đảm người học đạt chuẩn đầu ra. Giảng viên tham gia giảng dạy phải có chuyên môn phù hợp với học phần được phân công; giảng viên cơ hữu giữ vai trò chủ đạo.

Đối với chương trình đào tạo định hướng nghiên cứu, tỷ lệ khối lượng học tập do giảng viên cơ hữu trực tiếp đảm nhiệm không thấp hơn 75%; với chương trình định hướng ứng dụng, tỷ lệ này không thấp hơn 65%.

Ở trình độ đại học và chương trình đào tạo bậc 6, giảng viên tham gia thực hiện chương trình phải có trình độ thạc sĩ trở lên; trợ giảng có trình độ đại học trở lên. Đội ngũ phải duy trì tối thiểu 7 giảng viên cơ hữu hoặc đồng cơ hữu có trình độ tiến sĩ ngành phù hợp chủ trì thực hiện các học phần, trong đó có 2 giảng viên cơ hữu ngành đúng chịu trách nhiệm chính. Giảng viên toàn thời gian có trình độ tiến sĩ phải trực tiếp giảng dạy ít nhất 50% tổng khối lượng học tập thuộc khối kiến thức cơ sở ngành, kiến thức ngành và kiến thức chuyên sâu.

Đối với chương trình đào tạo chuyên sâu bậc 7 và chương trình thạc sĩ, giảng viên tham gia phải có trình độ tiến sĩ trở lên. Đội ngũ phải duy trì tối thiểu 5 giảng viên cơ hữu hoặc đồng cơ hữu có trình độ tiến sĩ ngành phù hợp, trong đó có một giáo sư hoặc một phó giáo sư ngành đúng chịu trách nhiệm chính. Giảng viên toàn thời gian trực tiếp giảng dạy ít nhất 75% khối lượng học tập thuộc khối kiến thức ngành, kiến thức chuyên sâu và các học phần trình độ thạc sĩ của chương trình tích hợp.

Đối với chương trình tiến sĩ, đội ngũ phải duy trì tối thiểu 5 giảng viên cơ hữu hoặc đồng cơ hữu có trình độ tiến sĩ ngành phù hợp, trong đó có 2 giảng viên cơ hữu ngành đúng chịu trách nhiệm chính, gồm ít nhất một giáo sư hoặc hai phó giáo sư. Giảng viên toàn thời gian có chức danh giáo sư hoặc phó giáo sư ngành phù hợp phải trực tiếp giảng dạy ít nhất 35% tổng khối lượng học tập của các học phần, chuyên đề lý thuyết thuộc khối kiến thức ngành và kiến thức chuyên sâu.

Ngoài ra, cơ sở đào tạo phải có đủ đội ngũ đáp ứng tiêu chuẩn hướng dẫn nghiên cứu sinh và nhân sự có trình độ, chuyên môn phù hợp để tham gia hội đồng đánh giá luận án tiến sĩ theo quy chế hiện hành.

Chi tiết Quyết định xem TẠI ĐÂY.

Cơ sở đào tạo phải cập nhật chương trình trong 24 tháng

Đáng chú ý, Điều 3 của Quyết định quy định các chương trình đào tạo trình độ đại học, thạc sĩ và tiến sĩ thuộc lĩnh vực Sản xuất và chế biến được ban hành sau thời điểm quyết định có hiệu lực phải thực hiện theo quy định mới.

Đối với các chương trình đã được ban hành trước thời điểm này, cơ sở đào tạo có trách nhiệm hoàn thành việc rà soát, cập nhật chương trình, bảo đảm đáp ứng các tiêu chí của chuẩn trong thời hạn 24 tháng kể từ ngày quyết định có hiệu lực thi hành.

Doãn Nhàn