Tại Hội nghị Giáo dục đại học năm 2026, Thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Lê Quân cho biết, nhiều đại học kê khai thạc sĩ, tiến sĩ để tính chỉ tiêu tuyển sinh nhưng thực tế nhóm này không giảng dạy bởi kiểm tra thu nhập, thuế thu nhập cá nhân thì không thấy họ nhận tiền lương từ trường.
Tới đây, Bộ sẽ thay đổi cách quản trị dữ liệu và thí điểm trước ở một số trường, ngành học "hot". Sinh viên được theo dõi từ khi nhập học đến khi đi làm. Cách làm tương tự với giảng viên, khi hệ thống sẽ truy vết theo mã số bảo hiểm xã hội, thuế thu nhập cá nhân,.... để biết họ có "gắn" với trường hay không. [1]
Theo đại diện một số cơ sở giáo dục đại học, việc quản trị bằng dữ liệu số là hướng đi cần thiết, giúp nắm rõ hơn năng lực thực tế của từng cơ sở đào tạo, đặc biệt sẽ khắc phục tình trạng “kê khống” giảng viên.
Quản trị bằng dữ liệu sẽ kiểm tra chính xác hơn về đội ngũ giảng viên
Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trần Thiên Phúc - Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Bách khoa, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh cho rằng việc quản lý dữ liệu giáo dục đại học dựa trên các mã định danh thống nhất như mã số thuế cá nhân, số bảo hiểm xã hội,... là hướng đi cần thiết và có tính khả thi cao.
Theo thầy Phúc, việc quản lý bằng các mã số sẽ giúp khắc phục tình trạng dữ liệu được thu thập từ nhiều nguồn nhưng không đồng nhất, dẫn đến chênh lệch và khó đối soát.
Đặc biệt, dữ liệu trong lĩnh vực giáo dục đại học có những đặc thù riêng khi không hoàn toàn vận hành theo năm tài chính (từ ngày 1/1 đến 31/12), mà chủ yếu gắn với năm học (academic year), thường kéo dài từ khoảng tháng 9 năm nay đến tháng 9 năm sau. Trong quá trình đó, nhiều thông tin liên quan đến đào tạo, nhân sự và người học có thể thay đổi theo những mốc thời gian khác nhau.
Vì vậy, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trần Thiên Phúc nhấn mạnh việc quản lý dữ liệu bằng mã số thống nhất sẽ cho phép cơ quan quản lý có thể truy xuất thông tin từ nhiều nguồn, tại nhiều thời điểm và khi cần thiết, qua đó hỗ trợ tốt hơn cho quá trình ra quyết định. Đây là một hướng đi đúng và quan trọng trong quản lý giáo dục đại học hiện nay.
Đồng quan điểm, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Cảnh Thái - Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Thủy lợi nhận định việc tăng cường quản trị dữ liệu và kiểm tra thực tế đội ngũ giảng viên là cần thiết để bảo đảm tính chính xác trong kê khai nhân sự phục vụ mở ngành đào tạo và xác định chỉ tiêu tuyển sinh. Tuy nhiên, cần có cơ chế giám sát phù hợp, tránh tạo thêm những thủ tục phức tạp, gây khó khăn cho các cơ sở giáo dục đại học.
Từ thực tế tại Trường Đại học Thủy lợi, thầy Thái cho biết, nhà trường thực hiện kê khai nhân sự dựa trên đội ngũ giảng viên cơ hữu đang làm việc chính thức và đóng bảo hiểm tại trường.
Đối với một số giảng viên đã nghỉ hưu từ các trường đại học hoặc viện nghiên cứu khác được mời về làm việc, dù số lượng không nhiều, nhà trường yêu cầu cam kết chỉ làm việc cho Trường Đại học Thủy lợi.
Theo thầy Thái, yêu cầu này nhằm hạn chế tình trạng một giảng viên được nhiều cơ sở giáo dục cùng kê khai, dẫn đến trùng lặp dữ liệu và phát sinh vấn đề trong quá trình kiểm tra, đối soát.
“Giảng viên đã ký hợp đồng với nhà trường cần chịu trách nhiệm về tính trung thực của những nội dung cam kết. Việc quản lý đội ngũ hiện nay cũng có những yêu cầu chặt chẽ về khối lượng công việc và hợp đồng lao động.
Vì vậy, từ thực tiễn tại đơn vị, tôi cho rằng không nhất thiết phải áp dụng những biện pháp quá nặng nề đối với giảng viên, mà cần có cơ chế quản lý phù hợp, bảo đảm các trường kê khai đúng thực tế”, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Thủy lợi bày tỏ.
Cùng chia sẻ về vấn đề này, đại diện Trường Đại học Sư phạm (Đại học Đà Nẵng) cho rằng, việc Bộ Giáo dục và Đào tạo dự kiến quản trị dữ liệu theo hướng truy vết giảng viên thông qua mã số bảo hiểm xã hội, mã số thuế thu nhập cá nhân là hướng đi cần thiết, phù hợp với yêu cầu đổi mới quản trị giáo dục đại học hiện nay.
Theo đại diện nhà trường, quản trị bằng dữ liệu sẽ giúp cơ quan quản lý có bức tranh chính xác hơn về đội ngũ giảng viên, quy mô đào tạo và năng lực thực tế của từng cơ sở giáo dục đại học, thay vì chủ yếu dựa vào báo cáo do các trường tự kê khai.
Việc liên thông dữ liệu về bảo hiểm xã hội, thuế thu nhập cá nhân và dữ liệu nhân sự của các cơ sở giáo dục có thể hỗ trợ xác minh thông tin, phát hiện trường hợp một giảng viên được kê khai tại nhiều nơi hoặc có sự không thống nhất giữa hồ sơ và thực tế.
“Tuy nhiên, cần phân biệt giữa việc một giảng viên có quan hệ lao động, thu nhập tại một đơn vị với việc giảng viên đó thực sự tham gia và chịu trách nhiệm chuyên môn tại cơ sở giáo dục. Dữ liệu bảo hiểm xã hội và thuế là những nguồn đối chiếu quan trọng, nhưng không nên được sử dụng như bằng chứng duy nhất để kết luận một giảng viên có thực sự gắn bó với nhà trường hay không.
Chẳng hạn, giảng viên thỉnh giảng, chuyên gia hoặc người làm việc theo những hình thức hợp tác hợp pháp có thể đóng góp đáng kể cho hoạt động đào tạo mà không nhất thiết có đầy đủ các dấu hiệu dữ liệu giống giảng viên làm việc toàn thời gian”, đại diện Trường Đại học Sư phạm (Đại học Đà Nẵng) nêu quan điểm.
Để triển khai hiệu quả, đại diện Trường Đại học Sư phạm (Đại học Đà Nẵng) cho rằng cần thực hiện ba nguyên tắc: dữ liệu phải chính xác và được cập nhật; các hệ thống phải liên thông, tránh yêu cầu nhà trường nhập lại những thông tin Nhà nước đã có; đồng thời, phải có cơ chế để cơ sở giáo dục và giảng viên giải trình, điều chỉnh khi dữ liệu chưa đầy đủ hoặc chưa phản ánh đúng thực tế.
Bên cạnh đó, việc kết nối, khai thác dữ liệu cá nhân phải đúng mục đích, đúng thẩm quyền, bảo đảm an toàn thông tin và quyền riêng tư. Mục tiêu cuối cùng không phải là tạo thêm một tầng báo cáo, mà là giảm thủ tục kê khai, tăng khả năng kiểm chứng và nâng cao trách nhiệm giải trình của các trường.
Chuyển từ kiểm tra hồ sơ sang kiểm tra dữ liệu và hoạt động thực tế sẽ hạn chế “kê khống” giảng viên
Liên quan đến tình trạng một số cơ sở giáo dục đại học kê khai giảng viên có trình độ thạc sĩ, tiến sĩ để tính điều kiện tuyển sinh hoặc mở ngành nhưng trên thực tế những người này không tham gia giảng dạy, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trần Thiên Phúc cho rằng tiêu chí quan trọng nhất để xác định một người có thực sự là giảng viên gắn với cơ sở giáo dục đại học hay không phải dựa trên mức độ tham gia thực tế vào hoạt động giảng dạy.
Theo đó, ngoài giảng viên cơ hữu, hiện nay còn có khái niệm giảng viên đồng cơ hữu, tức những người có thể đang làm việc tại các viện nghiên cứu hoặc đơn vị khác nhưng vẫn tham gia giảng dạy tại trường. Những trường hợp thực sự tham gia giảng dạy cũng cần được công nhận theo quy định.
Tuy nhiên, để xác định một người có thực sự tham gia giảng dạy hay không, cần dựa trên những dấu vết dữ liệu cụ thể. Trước hết, người đó phải thực sự đứng lớp; nếu có giảng dạy thì phải phát sinh thù lao và khoản thù lao này phải được thể hiện trên tài khoản cá nhân, chứng từ chi trả của đơn vị hoặc các chứng từ liên quan đến thuế thu nhập cá nhân.
“Vì vậy, nếu quản lý bằng dữ liệu số, chúng ta hoàn toàn có thể sử dụng những thông tin này như một phương tiện để kiểm tra xem một giảng viên có thực sự tham gia hoạt động giảng dạy tại đơn vị hay không. Từ đó, việc xác định họ là giảng viên cơ hữu hay giảng viên đồng cơ hữu sẽ trở nên dễ dàng và chính xác hơn”, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Bách khoa, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh nhận định.
Để hạn chế tình trạng kê khai số lượng giảng viên không phản ánh đúng thực tế, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trần Thiên Phúc cho rằng cần tăng cường liên thông dữ liệu giữa các hệ thống. Các thông tin về chứng từ thu - chi, thuế, bảo hiểm và những dữ liệu liên quan đã được số hóa và có thể tích hợp với hệ thống định danh điện tử như VNeID. Nếu các nguồn dữ liệu này được kết nối, cơ quan quản lý sẽ có thêm cơ sở để kiểm chứng thông tin do các trường kê khai, thay vì chỉ dựa trên hồ sơ giấy tờ.
Từ góc độ đó, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Bách khoa, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh ủng hộ việc Bộ Giáo dục và Đào tạo chuyển mạnh từ phương thức kiểm tra hồ sơ sang kiểm tra dựa trên dữ liệu và hoạt động thực tế tại các cơ sở giáo dục đại học. Đây là hướng đi đúng và phù hợp với xu thế quản trị đại học hiện nay.
Về việc bảo đảm hoạt động mở ngành mới và xác định chỉ tiêu tuyển sinh phản ánh đúng năng lực đào tạo thực tế, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trần Thiên Phúc cho rằng cần tận dụng hiệu quả hệ thống quản lý thông tin (HEMIS) mà Bộ Giáo dục và Đào tạo đang triển khai.
Theo thầy Phúc, hệ thống HEMIS hiện đã tương đối hoàn chỉnh, nhưng còn thiếu và cần được bổ sung dữ liệu về tài chính. Khi kết hợp được dữ liệu tài chính với các dữ liệu hiện có về nhân lực, quy mô đào tạo, cơ sở vật chất và các điều kiện bảo đảm chất lượng khác, cơ quan quản lý sẽ có cơ sở đầy đủ hơn để đánh giá năng lực thực tế của từng cơ sở giáo dục đại học.
Đối với dữ liệu về đội ngũ giảng viên, quy mô sinh viên, cơ sở vật chất và kết quả việc làm của sinh viên sau tốt nghiệp, thầy Phúc cho rằng đây không nên là những dữ liệu được cập nhật cố định theo năm tài chính, bởi các hoạt động của trường đại học diễn ra theo những mốc thời gian khác nhau. Dữ liệu cần được cập nhật theo các sự kiện thực tế như sau mỗi đợt tuyển sinh, thời điểm nhập học, thời điểm sinh viên tốt nghiệp và các mốc quan trọng khác trong quá trình đào tạo.
“Thời điểm diễn ra các hoạt động này cũng không hoàn toàn giống nhau giữa các trường. Chẳng hạn, tại Trường Đại học Bách khoa, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, thời điểm tốt nghiệp có thể rơi vào tháng 4 hoặc tháng 11, trong khi ở một cơ sở giáo dục khác, lịch tốt nghiệp có thể sớm hơn hoặc muộn hơn. Do đó, dữ liệu giáo dục đại học cần được xem như một “dữ liệu sống”, liên tục được cập nhật theo thực tế vận hành của từng cơ sở.
Có thể bắt đầu với tần suất cập nhật tương đối giãn, sau đó từng bước chuyển sang mô hình dữ liệu động và tiến tới cập nhật theo thời gian thực (real-time). Khi đó, tại bất kỳ thời điểm nào, cơ quan quản lý cũng có thể nhìn thấy dữ liệu thực tế về số lượng sinh viên đang học, sinh viên mới nhập học, sinh viên tốt nghiệp, đội ngũ giảng viên và các yếu tố liên quan”, thầy Phúc bày tỏ.
Trong khi đó, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Cảnh Thái cho rằng, khi đăng ký mở ngành đào tạo, các trường phải chứng minh đầy đủ hồ sơ về nhân sự và năng lực đáp ứng yêu cầu.
Bên cạnh việc thẩm định hồ sơ ban đầu, Bộ Giáo dục và Đào tạo có thể tổ chức kiểm tra đột xuất trong giai đoạn đầu triển khai ngành học, chẳng hạn sau một hoặc hai năm, nhằm xác định đội ngũ giảng viên có thực sự làm việc tại trường hay không.
Theo thầy Thái, thị trường lao động luôn có sự dịch chuyển, giảng viên có thể chuyển sang đơn vị khác khi có cơ hội phù hợp hơn. Tuy nhiên, khi một giảng viên rời đi, cơ sở giáo dục cần có phương án tuyển dụng người thay thế, thay vì tiếp tục kê khai nhân sự không còn đáp ứng yêu cầu để duy trì điều kiện mở ngành hoặc xác định chỉ tiêu tuyển sinh.
Nhấn mạnh sự cần thiết của việc kiểm tra thực tế, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Cảnh Thái cho rằng, hồ sơ và tình hình triển khai tại cơ sở giáo dục đôi khi có thể không hoàn toàn trùng khớp. Do đó, bên cạnh việc liên thông, đối soát dữ liệu quốc gia, cơ quan quản lý cần tăng cường kiểm tra hoạt động thực tế của nhà trường.
Việc công khai và cập nhật thông tin về đội ngũ giảng viên, quy mô sinh viên, cơ sở vật chất cũng cần được thực hiện thường xuyên, qua đó nâng cao trách nhiệm giải trình của các cơ sở giáo dục đại học.
“Yếu tố quan trọng nhất trong quá trình xem xét mở ngành mới vẫn là năng lực của đội ngũ giảng viên. Các trường cần đáp ứng đầy đủ tiêu chí về nhân sự trước khi nộp hồ sơ đề nghị mở ngành.
Đồng thời, Bộ Giáo dục và Đào tạo cần duy trì thẩm quyền kiểm tra đột xuất để kịp thời phát hiện những trường hợp không tuân thủ quy định hoặc không còn đáp ứng điều kiện đào tạo. Nếu mọi trường hợp mở ngành đều phải chờ cơ quan quản lý xem xét, cho phép theo quy trình kéo dài, việc triển khai có thể gặp khó khăn, ảnh hưởng đến hoạt động của các cơ sở giáo dục.
Vì vậy, có thể kết hợp cơ chế để các trường thực hiện theo quy định với việc tăng cường hậu kiểm. Trường hợp phát hiện cơ sở giáo dục kê khai không đúng hoặc không đáp ứng điều kiện đã cam kết, cơ quan quản lý cần xử lý theo quy định”, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Thủy lợi chia sẻ.
Tài liệu tham khảo:
[1]: https://vnexpress.net/phat-hien-nhieu-dai-hoc-ke-khong-giang-vien-5127138.html