Khi số lượng công bố khoa học tăng, chất lượng nghiên cứu cần được nhìn nhận toàn diện

30/10/2026 06:25
Thúy Hiền

GDVN - Đối với CSGDĐH, công bố quốc tế góp phần nâng cao uy tín học thuật và cải thiện vị thế trên các bảng xếp hạng. Tuy nhiên, thứ hạng chỉ nên là kết quả của một hệ sinh thái nghiên cứu tốt, không nên trở thành mục tiêu duy nhất của hoạt động công bố.

Theo Báo cáo kết quả giáo dục đại học 2025-2026 của Bộ Giáo dục và Đào tạo, giáo dục đại học Việt Nam đã ghi nhận những bước tiến đáng khích lệ về quy mô, số lượng. Hoạt động nghiên cứu khoa học của hệ thống giáo dục đại học Việt Nam đang có xu hướng tăng về số lượng công bố.

Cụ thể, số bài báo tăng 17,6%, từ 22.249 bài (năm 2024) lên 26.157 bài (năm 2025). Trong 9 tháng năm 2026, toàn hệ thống ghi nhận 23.717 bài và ước tính cả năm đạt khoảng 31.600 bài. Như vậy, dự kiến xu hướng này còn tiếp tục tăng mạnh. Thông tin dữ liệu từ báo cáo cũng cho thấy, các cơ sở giáo dục đại học đóng góp trên 83% tổng số công bố. [1]

Thực tế cho thấy nguồn lực và năng lực học thuật có xu hướng tập trung tại một số trường đại học tốp đầu, đồng thời đặt ra yêu cầu về các chính sách hỗ trợ phù hợp với từng nhóm cơ sở đào tạo nhằm thu hẹp khoảng cách phát triển trong hệ thống.

Tốc độ tăng số bài báo chưa thể là thước đo đầy đủ cho mức phát triển của năng lực nghiên cứu

Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Trường Thịnh - Phó Hiệu trưởng Trường Công nghệ và Thiết kế kiêm Viện trưởng Viện Công nghệ Thông minh và Tương tác, Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh cho biết, sự gia tăng số lượng công bố khoa học là một tín hiệu tích cực và phản ánh phần nào sự cải thiện về năng lực nghiên cứu của các cơ sở giáo dục đại học Việt Nam. Tuy nhiên, tốc độ tăng số bài báo chưa thể xem là thước đo đầy đủ cho mức phát triển của năng lực nghiên cứu.

“Năng lực nghiên cứu không chỉ được phản ánh qua số lượng công bố mà còn thể hiện ở chất lượng công trình, khả năng hình thành các nhóm nghiên cứu mạnh, mức độ hợp tác quốc tế, năng lực đào tạo nghiên cứu sinh, thu hút nguồn lực và đặc biệt là khả năng chuyển hóa kết quả nghiên cứu thành công nghệ, sản phẩm hoặc những giá trị thiết thực cho xã hội.

Sự gia tăng số lượng công bố khoa học thời gian qua xuất phát từ nhiều yếu tố. Nghiên cứu khoa học ngày càng được các trường đại học xác định là nhiệm vụ trọng tâm, gắn với chiến lược phát triển, xếp hạng, kiểm định chất lượng và đào tạo sau đại học.

Cùng với đó, các cơ chế khuyến khích công bố, đầu tư cho nhóm nghiên cứu, mở rộng hợp tác quốc tế và tiếp cận mạng lưới khoa học toàn cầu từng bước được cải thiện. Lực lượng giảng viên trẻ được đào tạo ở nước ngoài trở về công tác và sự phát triển của các chương trình đào tạo tiến sĩ cũng góp phần thúc đẩy xu hướng này.

Đồng thời, các công bố quốc tế giúp kết quả nghiên cứu của Việt Nam được kiểm chứng và kết nối sâu hơn với cộng đồng khoa học toàn cầu. Qua đó, các nhà khoa học và các đại học có thêm cơ hội hợp tác quốc tế, tiếp cận phương pháp mới, nguồn lực nghiên cứu và nâng cao chất lượng đào tạo.

Ở cấp độ kinh tế - xã hội, các công bố có chất lượng có thể tạo nền tảng cho đổi mới công nghệ, chuyển giao tri thức và giải quyết những bài toán thực tiễn. Tuy nhiên, cần nhấn mạnh rằng để tạo ra tác động thực sự, cần có cơ chế đưa kết quả nghiên cứu từ bài báo đến sản phẩm, công nghệ và ứng dụng.

Đối với các cơ sở giáo dục đại học, công bố quốc tế góp phần nâng cao uy tín học thuật, khả năng thu hút nhân lực, đối tác và cải thiện vị thế trên các bảng xếp hạng. Tuy nhiên, tôi cho rằng thứ hạng nên là kết quả của một hệ sinh thái nghiên cứu tốt, chứ không nên trở thành mục tiêu duy nhất của hoạt động công bố”, Giáo sư Nguyễn Trường Thịnh cho hay.

Bên cạnh đó, năng lực nghiên cứu giữa các cơ sở giáo dục đại học vẫn có sự chênh lệch đáng kể, trong khi nguồn lực nghiên cứu có xu hướng tập trung tại một số trường, viện và nhóm nghiên cứu mạnh vốn có lợi thế về đội ngũ, phòng thí nghiệm, mạng lưới hợp tác và năng lực công bố. Việc tập trung đầu tư vào những đơn vị này có thể tạo điều kiện hình thành các công trình chất lượng cao, song cũng tiềm ẩn nguy cơ nới rộng khoảng cách phát triển trong toàn hệ thống.

Để nâng cao hiệu quả đầu tư và thúc đẩy năng lực nghiên cứu đồng đều hơn, cần kết hợp đầu tư trọng điểm cho các nhóm nghiên cứu mạnh với cơ chế hỗ trợ những cơ sở còn hạn chế về nguồn lực và năng lực triển khai. Đồng thời, cần mở rộng các quỹ nghiên cứu cạnh tranh, phát triển hạ tầng nghiên cứu dùng chung và thúc đẩy hợp tác liên trường, liên viện. Đặc biệt, việc phân bổ nguồn lực cần dựa trên chất lượng đề xuất, năng lực thực hiện và tác động dự kiến của nghiên cứu, thay vì chủ yếu căn cứ vào số lượng công bố khoa học.

20250107071919-le-cong-bo-va-trao-quyet-dinh-bo-nhiem-chuc-danh-giao-su-pho-giao-su-nam-2024-18.jpg
Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Trường Thịnh - Phó Hiệu trưởng Trường Công nghệ và Thiết kế kiêm Viện trưởng Viện Công nghệ Thông minh và Tương tác, Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh. Ảnh: website nhà trường.

Đồng quan điểm, theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Quản Thành Thơ - Trưởng khoa Khoa học và Kỹ thuật Máy tính, Trường Đại học Bách khoa (Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh), sự gia tăng số bài báo khoa học và công bố quốc tế là một tín hiệu rất tích cực, phản ánh những tiến bộ thực chất trong năng lực nghiên cứu, khả năng hội nhập quốc tế và sự quan tâm ngày càng lớn đối với hoạt động khoa học tại các cơ sở giáo dục đại học Việt Nam.

Ở cấp độ cơ sở giáo dục đại học, công bố quốc tế góp phần khẳng định năng lực nghiên cứu, củng cố uy tín học thuật và nâng cao vị thế của nhà trường trên các bảng xếp hạng quốc tế. Một môi trường nghiên cứu chất lượng tạo sức hút đối với giảng viên, nghiên cứu sinh, sinh viên có năng lực, đồng thời mở rộng cơ hội hợp tác với các đối tác học thuật và doanh nghiệp.

Tuy nhiên, giá trị của nghiên cứu không chỉ dừng lại ở việc công bố kết quả. Xét về tác động kinh tế - xã hội, ý nghĩa lớn hơn nằm ở khả năng chuyển hóa tri thức thành công nghệ, sản phẩm, quy trình hoặc giải pháp có tính ứng dụng, góp phần giải quyết các vấn đề thực tiễn và tạo ra giá trị cho cộng đồng.

Tăng trưởng về số lượng công bố không đồng nghĩa với sự gia tăng tương xứng về chất lượng và tầm ảnh hưởng khoa học. Theo Phó Giáo sư Quản Thành Thơ, sự tăng trưởng này đến từ nhiều yếu tố, trong đó có chính sách khuyến khích nghiên cứu và công bố quốc tế, sự phát triển của các nhóm nghiên cứu, mạng lưới hợp tác quốc tế,... Bên cạnh đó, khả năng tiếp cận các nền tảng dữ liệu, công cụ tính toán và công nghệ mới cũng tạo điều kiện thuận lợi hơn cho hoạt động nghiên cứu.

Để đánh giá năng lực khoa học một cách đầy đủ, cần xem xét thêm chất lượng công bố, mức độ đóng góp tri thức mới, ảnh hưởng trong cộng đồng học thuật, khả năng đào tạo nguồn nhân lực nghiên cứu và giá trị ứng dụng thực tiễn.

Mặt khác, số lượng công bố quốc tế nên được xem là một mắt xích quan trọng trong chuỗi giá trị nghiên cứu, chứ không phải đích đến cuối cùng. Một nền khoa học phát triển bền vững không chỉ tạo ra nhiều công bố học thuật mà còn phải hình thành các nhóm nghiên cứu đủ năng lực giải quyết những vấn đề phức tạp, gắn kết nghiên cứu với đào tạo nhân lực, đổi mới sáng tạo và chuyển giao công nghệ, qua đó tạo ra những đóng góp thiết thực, lâu dài cho xã hội.

Chuyển trọng tâm từ “tăng số lượng” sang “nâng cao chất lượng” công bố

Đáng chú ý, theo Báo cáo kết quả giáo dục đại học năm học 2025-2026, dù tỷ lệ công bố quốc tế toàn hệ thống đạt mức ấn tượng là 82,8%, chỉ số trung vị thực tế ở cấp cơ sở lại chỉ dừng ở mức 62,0%, đồng thời ghi nhận 34 cơ sở không đáp ứng được Tiêu chí 6.2 về định mức công bố trên giảng viên theo Chuẩn cơ sở giáo dục đại học.

Phó Giáo sư Quản Thành Thơ nhận định, một trong những thách thức của hệ thống nghiên cứu khoa học Việt Nam hiện nay là sự chênh lệch về nguồn lực và năng lực nghiên cứu giữa các cơ sở giáo dục đại học. Những trường có truyền thống nghiên cứu, đội ngũ giảng viên mạnh, chương trình đào tạo sau đại học phát triển và mạng lưới hợp tác rộng thường có điều kiện thuận lợi hơn để hình thành các nhóm nghiên cứu chất lượng cao.

pgsts-quan-thanh-tho.jpg
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Quản Thành Thơ - Trưởng khoa Khoa học và Kỹ thuật Máy tính, Trường Đại học Bách khoa (Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh). Ảnh: NVCC.

“Ngoài ra, một bộ phận công trình khoa học tuy đáp ứng yêu cầu công bố nhưng chưa tạo ra tác động tương xứng. Tình trạng này không xuất phát từ một nguyên nhân đơn lẻ mà chủ yếu nằm ở sự thiếu gắn kết giữa việc lựa chọn vấn đề nghiên cứu, năng lực triển khai và khả năng phát huy giá trị của kết quả sau nghiên cứu.

Một công trình khoa học có giá trị cần bắt đầu từ câu hỏi nghiên cứu có ý nghĩa, được giải quyết bằng phương pháp phù hợp và tạo ra những đóng góp mới có thể kiểm chứng. Nếu nghiên cứu chủ yếu hướng đến hoàn thành chỉ tiêu công bố, thay vì xuất phát từ những vấn đề khoa học thực sự có ý nghĩa, nguy cơ tạo ra các kết quả hạn chế về giá trị học thuật và tác động thực tiễn sẽ cao hơn.

Bên cạnh đó, một số nghiên cứu có tiềm năng ứng dụng nhưng chưa thể phát triển xa hơn do thiếu nguồn lực, dữ liệu thực tế, đối tác triển khai hoặc cơ chế chuyển giao phù hợp. Tuy nhiên, cũng cần nhìn nhận rằng không phải mọi nghiên cứu đều phải tạo ra giá trị kinh tế ngay lập tức. Nghiên cứu cơ bản có thể mang lại những đóng góp quan trọng sau nhiều năm thông qua các khám phá mới hoặc phương pháp nghiên cứu có tính nền tảng.

Vì vậy, điều quan trọng là xây dựng môi trường nghiên cứu khuyến khích tính nghiêm túc, sáng tạo và khả năng theo đuổi những vấn đề khoa học khó; đồng thời tăng cường kết nối giữa trường đại học, viện nghiên cứu, doanh nghiệp và cơ quan quản lý. Khi các nhà khoa học có đủ điều kiện để theo đuổi một hướng nghiên cứu chuyên sâu trong thời gian dài, khả năng tạo ra những kết quả có giá trị và sức ảnh hưởng bền vững sẽ lớn hơn”, Phó Giáo sư Quản Thành Thơ cho hay.

Đồng thời, để giải quyết tình trạng công bố khoa học chất lượng thấp, nghiên cứu trùng lặp hoặc có đóng góp khoa học hạn chế, thầy Thơ cho rằng cần kết hợp đổi mới cơ chế đánh giá, nâng cao chuẩn mực liêm chính học thuật và tăng cường trách nhiệm của các nhóm nghiên cứu.

Trước hết, các trường đại học cần tránh chạy theo số lượng công bố, thay vào đó chú trọng tính mới, chất lượng và đóng góp thực chất của công trình. Việc đánh giá cần phù hợp với đặc thù từng lĩnh vực, không chỉ dựa vào việc bài báo có thuộc các cơ sở dữ liệu quốc tế hay không.

Bên cạnh đó, cần tăng cường đào tạo về đạo đức nghiên cứu, đồng thời xây dựng quy trình phát hiện, xử lý các hành vi đạo văn, trùng lặp và thao túng dữ liệu. Người hướng dẫn và trưởng nhóm nghiên cứu cũng cần đề cao trách nhiệm trong việc xây dựng văn hóa học thuật nghiêm túc, khuyến khích nghiên cứu chuyên sâu.

Số lượng công bố phản ánh quy mô nghiên cứu nhưng chất lượng và tầm ảnh hưởng mới quyết định giá trị lâu dài của một nền khoa học. Điều quan trọng không chỉ là công bố bao nhiêu bài báo, mà còn là những công trình đó tạo ra tri thức mới và đóng góp gì cho xã hội.

anh.jpg
Ảnh minh họa: website Trường Đại học Bách khoa (Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh).

Còn theo Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Trường Thịnh, khi một bộ phận công trình khoa học đáp ứng yêu cầu công bố nhưng chưa tạo ra tác động tương xứng, nguyên nhân chủ yếu nằm ở sự thiếu liên kết giữa các khâu của quá trình nghiên cứu.

“Một đề tài có thể được triển khai đúng phương pháp và đủ điều kiện công bố, nhưng nếu vấn đề nghiên cứu chưa gắn với nhu cầu thực tiễn, nhóm nghiên cứu thiếu tính liên ngành hoặc không có đối tác tiếp nhận kết quả thì giá trị sau công bố sẽ bị hạn chế. Vì vậy, cần chuyển từ tư duy “nghiên cứu để có bài báo” sang “nghiên cứu để giải quyết vấn đề”. Cơ chế tài trợ cũng nên khuyến khích sự tham gia của doanh nghiệp, bệnh viện, địa phương và cơ quan quản lý ngay từ đầu, tạo điều kiện để kết quả nghiên cứu được phát triển thành công nghệ, sản phẩm, quy trình hoặc chính sách.

Khi số lượng công bố tăng nhanh, yêu cầu đặt ra là phải chuyển trọng tâm từ số lượng sang chất lượng. Điều quan trọng trước hết là đổi mới cách đánh giá hoạt động nghiên cứu. Nếu vẫn chủ yếu căn cứ vào số bài báo, hệ thống sẽ tiếp tục tạo động lực chạy theo số lượng. Thay vào đó, cần xem xét toàn diện tính nguyên gốc, phương pháp nghiên cứu, chất lượng công bố, liêm chính học thuật và giá trị đóng góp của công trình.

Đồng thời, các trường đại học cần đầu tư dài hạn cho nhóm nghiên cứu mạnh, cơ sở vật chất, dữ liệu và đào tạo nghiên cứu sinh, thay vì chỉ hỗ trợ theo từng bài báo. Đặc biệt, cần ghi nhận xứng đáng những nghiên cứu tạo ra công nghệ, sản phẩm, bằng sáng chế, kết quả chuyển giao hoặc đóng góp thiết thực cho chính sách và xã hội”, Giáo sư Nguyễn Trường Thịnh cho biết.

Ngoài ra, để hạn chế tình trạng công bố trên các tạp chí chất lượng thấp, nghiên cứu trùng lặp hoặc công trình có đóng góp khoa học hạn chế, cần tiếp tục thay đổi cơ chế đánh giá theo hướng coi trọng thực chất. Áp lực chỉ tiêu số lượng có thể khiến một số nhà khoa học lựa chọn nơi công bố dễ dàng hơn hoặc chia nhỏ kết quả nghiên cứu.

Vì vậy, các cơ sở giáo dục đại học cần xây dựng tiêu chí đánh giá dựa trên chất lượng và mức độ đóng góp của công trình; tăng cường hướng dẫn nhận diện tạp chí kém chất lượng, kiểm tra tính trùng lặp và bảo đảm liêm chính học thuật. Hội đồng khoa học cũng cần xem xét kỹ tính mới, phương pháp và giá trị của nghiên cứu, thay vì chỉ căn cứ vào nơi bài báo được đăng. Mục tiêu không phải là công bố nhiều hơn bằng mọi giá, mà là tạo điều kiện để các nhà khoa học theo đuổi những nghiên cứu có chiều sâu, tạo ra tri thức mới và mang lại giá trị thực chất.

Tài liệu tham khảo:

[1] https://giaoduc.net.vn/giai-doan-2024-2026-so-bai-bao-khoa-hoc-cua-giao-duc-dai-hoc-viet-nam-tang-manh-post263133.gd

Thúy Hiền