Tại nhiều trường đại học, tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp loại giỏi, xuất sắc đã vượt 70%, thậm chí có nơi đạt hơn 80%, trong khi bằng tốt nghiệp xuất sắc từng được xem là “của hiếm”. Thực tế này đặt ra câu hỏi về tính thống nhất trong đánh giá kết quả học tập và chất lượng đào tạo thực chất.
“Nếu học dễ để đạt xuất sắc vậy thì sinh viên có phải nỗ lực hay không?”, đó là trăn trở của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Hoàng Minh Sơn trước thực tế tỷ lệ sinh viên xuất sắc “rất cao.
Vừa qua, Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng đã yêu cầu các cơ sở giáo dục đại học rà soát kết quả học tập của sinh viên, không áp đặt tỷ lệ tốt nghiệp loại giỏi, xuất sắc trong chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ năm học 2026-2027.
“Lạm phát điểm” không chỉ diễn ra ở Việt Nam
Trao đổi về vấn đề này, GS.TSKH Đặng Ứng Vận - nguyên Chánh Văn phòng Hội đồng Quốc gia giáo dục, Văn phòng Chính phủ, cho rằng tình trạng này không chỉ diễn ra ở Việt Nam mà còn được đề cập trong các nghiên cứu giáo dục quốc tế dưới khái niệm “lạm phát điểm”.
Theo GS.TSKH Đặng Ứng Vận, hiện tượng này có nhiều nguyên nhân, trong đó có những yếu tố xuất phát từ cơ chế thị trường và áp lực tuyển sinh của các cơ sở giáo dục đại học.
“Đây là vấn đề có tính khách quan trong bối cảnh các trường thực hiện tự chủ đại học. Nếu một trường đánh giá quá chặt, khiến nhiều sinh viên không đủ điều kiện tốt nghiệp, sinh viên ở những khóa sau có thể sẽ không lựa chọn trường đó nữa. Điều này đặc biệt tạo áp lực đối với các trường ở nhóm dưới, trong khi những trường thuộc nhóm đầu thường có điều kiện duy trì yêu cầu đánh giá chặt chẽ hơn”, thầy Vận phân tích.
Bên cạnh áp lực tuyển sinh, theo thầy Vận, kết quả học tập còn gắn với cơ hội việc làm của sinh viên sau khi tốt nghiệp. Trong bối cảnh bằng tốt nghiệp loại giỏi, xuất sắc có thể tạo lợi thế nhất định khi ứng tuyển, các trường cũng có thể chịu sức ép phải bảo đảm sinh viên có kết quả học tập thuận lợi hơn khi bước vào thị trường lao động.
“Nhà trường cũng phải quan tâm đến cơ hội việc làm của sinh viên. Nếu sinh viên khó tìm được việc làm, trường có thể gặp khó khăn trong tuyển sinh. Đây cũng là một trong những yếu tố tạo áp lực lên việc đánh giá và xếp loại tốt nghiệp”, thầy Vận phân tích.
Từ thực tế đó, thầy Vận cho rằng cần nghiên cứu triển khai hoạt động đánh giá chất lượng sinh viên tốt nghiệp ở quy mô quốc gia, có thể thực hiện theo từng ngành đào tạo. Kết quả đánh giá chung sẽ tạo cơ sở để đối chiếu năng lực của sinh viên giữa các cơ sở giáo dục đại học, qua đó có thêm căn cứ xem xét chất lượng đào tạo thực chất.
“Đây là vấn đề cần được đánh giá ở tầm vĩ mô. Nếu tổ chức được việc đánh giá chất lượng sinh viên tốt nghiệp trên phạm vi toàn quốc, theo từng ngành đào tạo, chúng ta sẽ có cơ sở rõ ràng hơn để biết chất lượng sinh viên giữa các trường khác nhau như thế nào”, thầy Vận nêu quan điểm.
Nhiều yếu tố có thể khiến tỷ lệ giỏi, xuất sắc tăng cao
Cùng bàn về vấn đề này, Tiến sĩ Nguyễn Kim Dung - Viện trưởng Viện Khoa học Giáo dục Nam Việt (RISES), Phó Giám đốc Trung tâm Kiểm định chất lượng giáo dục Đông A, cũng cho rằng tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp loại giỏi, xuất sắc tăng cao có thể xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau, từ áp lực tuyển sinh, yêu cầu chuẩn đầu ra, cách thiết kế chương trình đào tạo và hoạt động kiểm tra, đánh giá của giảng viên,...
Theo Tiến sĩ Nguyễn Kim Dung, một trong những yếu tố cần tính đến là áp lực việc làm của sinh viên sau tốt nghiệp. Trên thực tế, khi tuyển dụng, nhà tuyển dụng có thể đặt ra những yêu cầu khác nhau về xếp loại tốt nghiệp đối với ứng viên đến từ các cơ sở đào tạo khác nhau. Sinh viên tốt nghiệp loại khá, giỏi ở một trường có thể đã đáp ứng yêu cầu của nhà tuyển dụng, nhưng sinh viên đến từ trường khác có thể phải đạt loại xuất sắc mới có lợi thế cạnh tranh.
“Các trường cũng mong muốn sinh viên ra trường có việc làm. Vì vậy, có thể xuất hiện tâm lý muốn nâng điểm cho sinh viên, làm đẹp hồ sơ tốt nghiệp để các em thuận lợi hơn khi tìm việc”, Tiến sĩ Nguyễn Kim Dung phân tích.
Một nguyên nhân khác, theo chuyên gia, liên quan đến yêu cầu bảo đảm chuẩn đầu ra của chương trình đào tạo. Điểm trung bình tích lũy (GPA) và việc đáp ứng chuẩn đầu ra là hai vấn đề khác nhau. Có những trường hợp sinh viên đạt yêu cầu về điểm trung bình tích lũy nhưng chưa đáp ứng đầy đủ các chuẩn đầu ra của chương trình đào tạo.
Tiến sĩ Nguyễn Kim Dung cho rằng trong bối cảnh các cơ sở giáo dục đại học ngày càng phải chú trọng việc bảo đảm người học đáp ứng chuẩn đầu ra, điều này có thể làm gia tăng tỷ lệ sinh viên đạt yêu cầu trong đó bao gồm cả tỷ lệ sinh viên đạt loại giỏi, xuất sắc.
Tiến sĩ Nguyễn Kim Dung cũng lưu ý đến tác động của hoạt động lấy ý kiến phản hồi của người học đối với giảng viên. Theo đó, khi sinh viên tham gia đánh giá giảng viên sau mỗi học phần hoặc khóa học, có thể xuất hiện tâm lý giảng viên muốn tạo sự hài lòng cho người học bằng cách chấm điểm dễ hơn.
Ngoài ra, theo chuyên gia, việc xây dựng chuẩn đầu ra và thiết kế bài kiểm tra, đánh giá tại một số cơ sở đào tạo cũng cần được xem xét. Nếu yêu cầu đầu ra được đặt ra thấp hơn hoặc bài kiểm tra có độ khó chưa phù hợp, tỷ lệ sinh viên đạt kết quả cao có thể tăng lên mà chưa phản ánh đầy đủ năng lực thực tế của người học.
Trước yêu cầu Bộ Giáo dục và Đào tạo rà soát kết quả học tập của sinh viên, không áp đặt tỷ lệ tốt nghiệp loại giỏi, xuất sắc, Tiến sĩ Nguyễn Kim Dung cho rằng bài toán quan trọng là xây dựng được cơ chế đánh giá phù hợp để bảo đảm giá trị thực chất của bằng cấp.
Theo chuyên gia này, thời gian gần đây, yêu cầu đánh giá mức độ đáp ứng chuẩn đầu ra của người học trong từng chương trình đào tạo ngày càng được đặt ra rõ ràng hơn. Điều này đòi hỏi các cơ sở giáo dục đại học phải xác định được người tốt nghiệp có thực sự đạt năng lực, kiến thức và kỹ năng theo yêu cầu của chương trình cũng như kỳ vọng của xã hội hay không.
“Nếu một nền giáo dục khiến bằng cấp dần mất đi giá trị, việc đánh giá không còn ý nghĩa thì sẽ dẫn đến những hệ lụy đáng lo ngại. Bài toán lâu dài là phải học thật, đánh giá thật, không chạy theo thành tích”, Tiến sĩ Nguyễn Kim Dung nêu quan điểm.
Để thực hiện điều đó, chuyên gia cho rằng cần có sự phối hợp đồng bộ giữa cơ quan quản lý nhà nước, các trường đại học, đơn vị kiểm định chất lượng giáo dục và các bên liên quan. Trong đó, các đơn vị có chức năng quản lý, kiểm định và thanh tra cần thực hiện đầy đủ vai trò của mình, kịp thời nhận diện những bất cập trong hoạt động đánh giá, tránh tình trạng phát hiện vấn đề nhưng bỏ qua hoặc chưa xử lý đến nơi đến chốn.
Ở cấp cơ sở đào tạo, các trường cần tăng cường tập huấn, hỗ trợ giảng viên nâng cao năng lực kiểm tra, đánh giá. Theo bà Dung, đánh giá là một trong những kỹ năng quan trọng của giảng viên, bao gồm đánh giá hoạt động học tập, đánh giá nhằm hỗ trợ quá trình học tập và đánh giá kết quả học tập.
Giảng viên cần sử dụng đánh giá như một phần của quá trình dạy học, thường xuyên theo dõi tiến bộ của người học và thiết kế hoạt động học tập phù hợp, thay vì chỉ tập trung vào việc cho điểm. Việc kiểm tra, đánh giá phải được thực hiện nghiêm túc, có căn cứ, bảo đảm độ chính xác và tin cậy.
Bên cạnh đó, chuyên gia cho rằng tiếng nói của nhà tuyển dụng cũng có vai trò quan trọng. Đây là những đơn vị trực tiếp sử dụng lao động sau đào tạo, do đó cần có sự kết nối giữa cơ sở giáo dục đại học và thị trường lao động để phản hồi về năng lực thực tế của sinh viên tốt nghiệp.
Theo Tiến sĩ Nguyễn Kim Dung, thay đổi tư duy và thói quen đánh giá không thể thực hiện trong thời gian ngắn mà cần một quá trình với sự tham gia của nhiều bên.
“Đây là bài toán không dễ, đòi hỏi sự phối hợp có hệ thống và lâu dài. Khi người học thực sự đáp ứng yêu cầu, có thể tự hào về tấm bằng mình nhận được thì chất lượng của chương trình đào tạo mới có ý nghĩa”, bà Dung chia sẻ.
Không thể chỉ nhìn vào tỷ lệ xếp loại để kết luận chất lượng
Trong khi đó, PGS.TS Lê Văn Hảo - Cố vấn Hội đồng Trường và Ban Giám hiệu Trường Đại học Quốc tế Miền Đông; nguyên Trưởng phòng Bảo đảm chất lượng và Khảo thí - Trường Đại học Nha Trang, cho rằng cần thận trọng khi đánh đồng kết quả này với việc các trường nới lỏng tiêu chí đánh giá.
Theo thầy, tỷ lệ sinh viên đạt xếp loại cao có thể phản ánh sự cải thiện về chất lượng đầu vào, phương pháp giảng dạy và hệ thống hỗ trợ người học. Tuy nhiên, đây cũng có thể là hệ quả của cách thiết kế đề thi, tiêu chí chấm điểm, cơ chế đánh giá hoặc áp lực thành tích.
“Chỉ nhìn vào tỷ lệ xếp hạng thì chưa thể phân biệt được các khả năng đó”, thầy Hảo nhận định.
Theo thầy Hảo, qua các thông tin công khai trong khoảng hai năm gần đây, một số trường đại học công bố tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp loại giỏi, xuất sắc ở mức cao, có nơi khoảng 75-85%. Tuy nhiên, dữ liệu hiện chưa đầy đủ và chưa được chuẩn hóa về năm thống kê, nhóm ngành, loại hình đào tạo cũng như số lượng sinh viên được công nhận tốt nghiệp. Vì vậy, chưa đủ cơ sở để coi những con số này là đại diện cho toàn hệ thống giáo dục đại học Việt Nam.
PGS.TS Lê Văn Hảo cho rằng điều quan trọng không nằm ở việc tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp loại giỏi, xuất sắc cao hay thấp, mà là kết quả đó có phản ánh đúng năng lực của người học hay không. Nếu sinh viên đạt điểm cao nhờ được học tập tốt hơn, nhận phản hồi kịp thời và có cơ hội cải thiện năng lực, đây là tín hiệu tích cực. Ngược lại, nếu tỷ lệ này tăng chủ yếu do hạ chuẩn hoặc nới tiêu chí đánh giá mà không có sự cải thiện tương ứng trong hoạt động dạy và học, giá trị thông tin của kết quả xếp loại sẽ suy giảm.
Vì vậy, thầy cho rằng không nên mặc nhiên coi tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp loại giỏi, xuất sắc cao là bất thường. Để đánh giá chính xác hơn, cần xem xét đồng thời phân bố điểm, mức độ đáp ứng chuẩn đầu ra, tỷ lệ học lại, tốt nghiệp đúng hạn, chất lượng công cụ đánh giá và phản hồi từ các đơn vị sử dụng lao động.
Đánh giá chuẩn đầu ra thay vì chỉ nhìn vào điểm số
Trước yêu cầu của Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc rà soát kết quả học tập, không áp đặt tỷ lệ tốt nghiệp loại giỏi, xuất sắc, thầy Hảo cho rằng cần chú trọng cơ chế đánh giá độc lập và minh chứng về năng lực thực tế của người học.
Theo kinh nghiệm tham gia đánh giá ngoài trong kiểm định chất lượng giáo dục, thầy Hảo cho rằng việc sử dụng tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp loại giỏi, xuất sắc làm chỉ số đánh giá hiệu quả không nhất thiết là không phù hợp. Vấn đề nằm ở cách sử dụng chỉ số này. Nếu chỉ tiêu được đặt ra mà không gắn với những cải tiến cụ thể về giảng dạy, đánh giá và hỗ trợ người học, nó có thể tạo động cơ nâng điểm thay vì nâng cao năng lực.
Trong bối cảnh giáo dục đại học chuyển mạnh sang tiếp cận đào tạo theo chuẩn đầu ra (OBE), các trường cần phân biệt rõ điểm số học phần với năng lực mà sinh viên thực sự đạt được khi tốt nghiệp. Theo thầy Hảo, điểm trung bình tích lũy và xếp loại tốt nghiệp vẫn có giá trị tham khảo, nhưng không nên được coi là thước đo duy nhất về chất lượng người học hoặc chương trình đào tạo.
Từ đó, PGS.TS Lê Văn Hảo đề xuất mỗi chương trình đào tạo cần xác định rõ các chuẩn đầu ra có thể đo lường được, đồng thời xây dựng ma trận liên kết giữa chuẩn đầu ra với học phần, phương pháp giảng dạy và phương pháp đánh giá.
Song song với đó, cần tăng cường kiểm soát chất lượng đánh giá thông qua việc rà soát ma trận đề thi, tiêu chí chấm điểm, độ khó và khả năng phân biệt của câu hỏi; thống nhất tiêu chuẩn giữa những người chấm; phân tích phân bố điểm bất thường; tổ chức đánh giá chéo hoặc kiểm tra xác suất khi cần thiết.
Theo thầy, các cơ sở giáo dục đại học cũng cần công khai thông tin về kết quả tốt nghiệp theo cách có thể so sánh, đồng thời giải thích rõ phạm vi thống kê, phương pháp tính và quy định đánh giá. Cơ quan quản lý và tổ chức kiểm định chất lượng giáo dục cần xem xét cả tính phù hợp của quy trình đánh giá lẫn bằng chứng về mức độ đạt chuẩn đầu ra, thay vì chỉ tập trung vào tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp loại giỏi, xuất sắc.
Cần minh bạch hơn thông tin về năng lực người tốt nghiệp
Về cách xác định xếp loại tốt nghiệp, thầy Hảo cho rằng có thể nghiên cứu phương án kết hợp kết quả học tập tích lũy với mức độ đáp ứng các chuẩn đầu ra quan trọng, theo trọng số và quy tắc được công bố trước. Tuy nhiên, phương án này cần được thử nghiệm, đánh giá tác động trước khi áp dụng rộng rãi, bảo đảm tính minh bạch và tránh cách tính tùy nghi.
Thầy cũng đề xuất nghiên cứu cách thể hiện thông tin trên văn bằng và các tài liệu đi kèm. Theo đó, văn bằng có thể xác nhận trình độ, ngành và chuyên ngành đào tạo; bảng điểm, phụ lục văn bằng hoặc hồ sơ số có xác thực cung cấp thêm thông tin về kết quả học tập, mức độ đạt chuẩn đầu ra và xếp loại tốt nghiệp.
Cách tiếp cận này có thể giúp nhà tuyển dụng tiếp cận thông tin đầy đủ hơn về người ứng tuyển, thay vì coi nhãn Khá, Giỏi hay Xuất sắc là đại diện duy nhất cho năng lực. Việc triển khai cần phù hợp với quy định pháp luật, bảo đảm quyền lợi của người học và khả năng xác minh thông tin của các bên liên quan.
Theo thầy Hảo, giá trị của tấm bằng không chỉ nằm ở xếp loại tốt nghiệp mà còn phụ thuộc vào độ tin cậy của quá trình đào tạo và đánh giá đứng sau văn bằng. Mục tiêu không phải là tăng hay giảm tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp loại giỏi, xuất sắc theo một chỉ tiêu định trước, mà là bảo đảm kết quả tốt nghiệp có ý nghĩa rõ ràng, có minh chứng và phản ánh trung thực năng lực của người học.