CSGDĐH ủng hộ truy vết giảng viên theo mã số thuế, kiến nghị cơ quan quản lý tăng kiểm tra đột xuất

29/10/2026 06:22
Đình Nam

GDVN - Theo đại diện một số cơ sở giáo dục đại học, việc quản trị bằng dữ liệu số tạo thuận lợi trong việc thúc đẩy tính minh bạch trong công tác quản trị, xác thực điều kiện bảo đảm chất lượng và bảo vệ người học.

Chuyển đổi số trong giáo dục đại học là yêu cầu tất yếu khi thực hiện Cách mạng công nghiệp 4.0. Trong đó, quản trị đại học bằng dữ liệu số giúp thông tin được công khai, minh bạch, góp phần nâng cao năng lực thực tế của cơ sở đào tạo.

Đây cũng là định hướng của Bộ Giáo dục và Đào tạo tại Hội nghị Giáo dục đại học năm 2026, khi hệ thống tới đây sẽ truy vết đội ngũ giảng viên theo mã số bảo hiểm xã hội, thuế thu nhập cá nhân,.... để biết họ có "gắn" với trường hay không. [1]

Cách làm này nhận được sự đồng tình của đại diện một số cơ sở giáo dục đại học, cho rằng việc quản trị bằng dữ liệu số tạo thuận lợi trong việc thúc đẩy tính minh bạch trong công tác quản trị và bảo vệ người học.

Giảng viên phải là người tham gia thực chất và thường xuyên vào hệ sinh thái học thuật của cơ sở giáo dục đại học

Chia sẻ với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Tiến sĩ Phan Thị Hồng Phúc - Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Nông Lâm (Đại học Thái Nguyên) ủng hộ việc quản trị dữ liệu theo hướng truy vết giảng viên thông qua mã số bảo hiểm xã hội, mã số thuế thu nhập cá nhân,... nhằm xác thực điều kiện bảo đảm chất lượng, bảo vệ người học và tạo sự công bằng giữa các cơ sở đào tạo.

Theo cô Phúc, về cơ sở pháp lý, Nghị định 88/2026/NĐ-CP về quy định quản lý dữ liệu giáo dục và đào tạo đã quy định việc kết nối, chia sẻ cơ sở dữ liệu quốc gia về giáo dục và đào tạo với các cơ sở dữ liệu quốc gia, trong đó có cơ sở dữ liệu về bảo hiểm. Đây là nền tảng để triển khai đối soát, song tính khả thi còn phụ thuộc vào chất lượng dữ liệu, hạ tầng kết nối và cơ chế phối hợp giữa các cơ quan.

Tuy nhiên, dữ liệu bảo hiểm và thuế chỉ là căn cứ hỗ trợ xác minh quan hệ làm việc, chi trả thu nhập, chưa đủ để đánh giá mức độ tham gia thực chất của giảng viên. Vì vậy, cần đối chiếu thêm hợp đồng hoặc quyết định tuyển dụng, phân công chuyên môn, thời khóa biểu, kết quả giảng dạy và hướng dẫn người học.

672671830-35410329368557934-6320569482556064505-n.jpg
Tiến sĩ Phan Thị Hồng Phúc - Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Nông Lâm (Đại học Thái Nguyên). Ảnh: NVCC

“Việc phát sinh thu nhập không đồng nghĩa với chất lượng tham gia đào tạo; ngược lại, những trường hợp dữ liệu chưa khớp cũng cần được xác minh trước khi đưa ra kết luận. Các nhóm giảng viên đồng cơ hữu, người nghỉ hưu làm việc theo hợp đồng hoặc giảng viên quốc tế cần được đối chiếu theo chế độ pháp lý tương ứng”, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Nông Lâm (Đại học Thái Nguyên) bày tỏ.

Để giảm thủ tục hành chính, Tiến sĩ Phan Thị Hồng Phúc đề xuất tổ chức quản trị theo nguyên tắc dữ liệu được khai báo tại nguồn và sử dụng chung cho nhiều nhiệm vụ. Cơ quan quản lý cần chủ trì kết nối với cơ quan bảo hiểm, thuế theo đúng thẩm quyền, tránh yêu cầu từng giảng viên cung cấp lại những giấy tờ, xác nhận đã có trên hệ thống.

Đồng thời, cần thống nhất mã định danh, chuẩn dữ liệu, thời điểm chốt số liệu và đầu mối chịu trách nhiệm; thiết lập cơ chế để nhà trường, giảng viên giải trình, điều chỉnh thông tin sai lệch.

Việc khai thác dữ liệu phải đúng mục đích, đúng phạm vi theo quy định về bảo vệ dữ liệu cá nhân. Theo bà, nên triển khai thí điểm, đánh giá khả năng phát hiện sai lệch, tỷ lệ cảnh báo nhầm và thời gian thực hiện thủ tục trước khi mở rộng.

Đồng quan điểm, Thạc sĩ Lê Vũ - Giám đốc Trung tâm Học liệu và Truyền thông, Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật (Đại học Đà Nẵng) cho rằng, việc đối soát thông tin giảng viên thông qua dữ liệu bảo hiểm xã hội và thuế thu nhập cá nhân là một bước đi đột phá, đồng thời có tính khả thi cao trong bối cảnh chuyển đổi số đang được đẩy mạnh.

Cách làm này không chỉ góp phần ngăn chặn, xử lý triệt để tình trạng mượn hồ sơ giảng viên để phục vụ việc mở ngành, mà còn tạo động lực thúc đẩy tính minh bạch trong công tác quản trị đại học.

Thạc sĩ Lê Vũ đánh giá cao định hướng này của Bộ Giáo dục và Đào tạo, song cho rằng để chính sách thực sự phát huy hiệu quả mà không làm gia tăng thủ tục hành chính, Bộ cần phối hợp với các bộ, ngành liên quan xây dựng cơ chế liên thông và tự động hóa hoàn toàn quá trình đối soát dữ liệu.

Bên cạnh đó, hệ thống cần được thiết kế với cơ chế phân quyền và kiểm soát truy cập chặt chẽ, bảo đảm an toàn, bảo mật thông tin cá nhân. Việc khai thác dữ liệu cũng cần tuân thủ nguyên tắc tối thiểu hóa, chỉ truy xuất những trường thông tin thực sự cần thiết và phù hợp với mục đích quản lý nhà nước trong lĩnh vực giáo dục.

1786092207869-2011436080641301977-2011436080641301977-dcbe15066bf122c5295c352f51ac8bd1.jpg
Thạc sĩ Lê Vũ - Giám đốc Trung tâm Học liệu và Truyền thông Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật (Đại học Đà Nẵng). Ảnh: NVCC

“Một giảng viên thực sự “gắn” với một cơ sở giáo dục đại học không thể chỉ được xác định thông qua hồ sơ, giấy tờ, mà phải là người tham gia thực chất và thường xuyên vào hệ sinh thái học thuật của nhà trường.

Điều này trước hết thể hiện ở mối quan hệ lao động ổn định, với hợp đồng làm việc toàn thời gian và việc tham gia bảo hiểm xã hội tại chính đơn vị, đồng thời giảng viên phải trực tiếp thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn như giảng dạy, nghiên cứu khoa học hoặc hướng dẫn sinh viên”, Giám đốc Trung tâm Học liệu và Truyền thông, Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật (Đại học Đà Nẵng) chia sẻ.

Cũng theo thầy Vũ, việc quy định rõ các tiêu chí về thời gian làm việc, định mức giờ chuẩn giảng dạy cũng như trách nhiệm và kết quả công bố khoa học là cần thiết để đánh giá thực chất mức độ tham gia của giảng viên tại cơ sở giáo dục đại học.

Những tiêu chí mang tính định lượng này không chỉ tạo ra cơ sở khách quan để Bộ Giáo dục và Đào tạo xác định đúng năng lực đào tạo thực tế của từng cơ sở, mà còn góp phần ngăn chặn tình trạng khai khống, “mượn” hoặc sử dụng hình thức danh sách nhân sự để đáp ứng điều kiện mở ngành. Quan trọng hơn, việc xác định đội ngũ giảng viên theo hướng thực chất sẽ góp phần bảo đảm chất lượng đào tạo và bảo vệ quyền lợi chính đáng của người học.

Dữ liệu được số hóa sẽ phản ánh đúng năng lực thực chất của mỗi nhà trường

Bên cạnh việc xây dựng và liên thông dữ liệu quốc gia, Thạc sĩ Lê Vũ nhận định, Bộ Giáo dục và Đào tạo cần chuyển mạnh từ cơ chế tiền kiểm hồ sơ sang hậu kiểm định kỳ và đột xuất.

Cụ thể, thay vì chủ yếu kiểm tra giấy tờ tại thời điểm cơ sở giáo dục đề nghị mở ngành, cơ quan quản lý cần từng bước kiểm tra dựa trên dữ liệu vận hành thực tế của nhà trường và các hoạt động được ghi nhận trên hệ thống. Đây là xu hướng tất yếu trong quản lý giáo dục trong bối cảnh chuyển đổi số, khi dữ liệu có thể trở thành công cụ quan trọng để giám sát và đánh giá năng lực đào tạo một cách thực chất.

“Cơ quan quản lý có thể khai thác các công cụ phân tích dữ liệu lớn để nhận diện những dấu hiệu bất thường, chẳng hạn sự mất cân đối giữa số lượng giảng viên và người học, hoặc sự chênh lệch giữa quy mô tuyển sinh, đào tạo với năng lực cơ sở vật chất của nhà trường.

Cùng với đó, cần thiết lập các kênh phản hồi độc lập từ người học và doanh nghiệp sử dụng lao động, qua đó bổ sung thêm một nguồn thông tin thực tế để đánh giá chất lượng đào tạo. Đặc biệt, khi phát hiện sai phạm, cần áp dụng các chế tài đủ mạnh và mang tính răn đe, từ đình chỉ tuyển sinh đến thu hồi quyết định mở ngành.

Chỉ khi kết hợp được dữ liệu liên thông, hậu kiểm thực chất và chế tài nghiêm minh, công tác quản lý mới có thể hạn chế tình trạng đối phó trên hồ sơ và bảo đảm chất lượng đào tạo được duy trì trong thực tế”, Giám đốc Trung tâm Học liệu và Truyền thông, Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật (Đại học Đà Nẵng) cho hay.

Từ thực tiễn quản trị, Thạc sĩ Lê Vũ cho rằng giải pháp cốt lõi để nâng cao năng lực đào tạo là xây dựng một hệ thống quản trị đại học thông minh, trong đó các quy trình từ quản lý nhân sự, tài chính đến đào tạo được tích hợp trên cùng một nền tảng dữ liệu.

Khi dữ liệu nội bộ được số hóa, kết nối và minh bạch, năng lực thực chất của mỗi nhà trường sẽ được phản ánh rõ nét hơn thông qua các chỉ số đo lường hiệu quả công việc, thay vì chỉ dựa vào hồ sơ, báo cáo hành chính.

Theo thầy Vũ, việc xác định chỉ tiêu tuyển sinh cũng cần được thực hiện trên cơ sở một ma trận đánh giá tổng hợp, phản ánh đầy đủ các điều kiện bảo đảm chất lượng của nhà trường.

Trong đó, cần xem xét đồng thời số lượng giảng viên cơ hữu thực tế, diện tích và khả năng đáp ứng của hệ thống phòng học, mức độ đáp ứng của trang thiết bị, đặc biệt là các phòng thí nghiệm chuyên sâu, cùng với những chỉ số đầu ra như tỷ lệ sinh viên có việc làm đúng chuyên ngành. Đây mới là những căn cứ phản ánh tương đối đầy đủ năng lực đào tạo và khả năng đáp ứng nhu cầu xã hội của một cơ sở giáo dục đại học.

703936090-1556807256454253-7700344515114537510-n.jpg
Giảng viên và sinh viên khoa Cơ khí, Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật (Đại học Đà Nẵng). Ảnh: website nhà trường

Bên cạnh việc tự đánh giá và minh bạch hóa dữ liệu nội bộ, thầy Vũ cho rằng các trường đại học cũng cần chủ động mời các tổ chức kiểm định độc lập tham gia đánh giá chất lượng chương trình đào tạo. Việc này không chỉ giúp nhà trường nhận diện rõ những điểm mạnh, điểm hạn chế để có giải pháp cải tiến, mà còn tạo thêm một cơ chế đánh giá khách quan, qua đó khẳng định năng lực đào tạo thực chất và củng cố niềm tin của người học, xã hội đối với chất lượng giáo dục của nhà trường.

Còn theo đại diện một trường đại học ở phía Nam, dữ liệu về giảng viên, quy mô sinh viên, cơ sở vật chất và kết quả việc làm của sinh viên nên được công khai, cập nhật và liên thông một cách minh bạch, đầy đủ và dễ tiếp cận để thực sự phát huy hiệu quả.

Hiện nay, Bộ Giáo dục và Đào tạo đang triển khai Hệ thống Cơ sở dữ liệu về giáo dục đại học (HEMIS). Vị này cho rằng hệ thống nên được thiết kế theo hướng trực quan, với các bảng điều khiển dữ liệu (dashboard) dễ theo dõi, đồng thời được cập nhật theo thời gian thực hoặc định kỳ, chẳng hạn theo quý.

Khi những thông tin quan trọng về năng lực đào tạo được công khai, người học, phụ huynh và xã hội có thể thuận tiện so sánh, đánh giá và giám sát hoạt động của từng cơ sở giáo dục đại học. Đây không chỉ là công cụ cung cấp thông tin mà còn là một cơ chế thúc đẩy trách nhiệm giải trình của các nhà trường.

“Sự giám sát từ cộng đồng, khi được hỗ trợ bởi một hệ thống dữ liệu liên thông, minh bạch và có khả năng cập nhật thường xuyên, sẽ tạo ra áp lực tích cực đối với các cơ sở giáo dục đại học. Qua đó, các trường sẽ có thêm động lực để cải thiện chất lượng, nâng cao hiệu quả quản trị và tập trung vào những giá trị đào tạo thực chất, thay vì chỉ đáp ứng các yêu cầu trên hồ sơ, giấy tờ”, vị này chia sẻ.

Tài liệu tham khảo:

[1]: https://vnexpress.net/phat-hien-nhieu-dai-hoc-ke-khong-giang-vien-5127138.html

Đình Nam