NCS ngành Sản xuất và chế biến phải có công bố WoS/Scopus: Yêu cầu khó nhưng nâng chất lượng

08/11/2026 06:22
Trần Trang

GDVN -Công bố khoa học vừa tạo động lực cho nghiên cứu sinh lĩnh vực Sản xuất và chế biến, vừa thúc đẩy cơ sở đào tạo nâng cao chất lượng nghiên cứu.

Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Quyết định 3026/QĐ-BGDĐT Chuẩn chương trình đào tạo lĩnh vực Sản xuất và chế biến trình độ đại học, thạc sĩ và tiến sĩ.

Trong đó, chương trình đào tạo trình độ tiến sĩ yêu cầu nghiên cứu sinh phải là tác giả đứng tên đầu hoặc tác giả liên hệ của các công bố gồm: một bài báo khoa học hoặc báo cáo hội nghị khoa học được công bố trong các ấn phẩm thuộc danh mục WoS/Scopus, hoặc chương sách tham khảo do nhà xuất bản quốc tế có uy tín phát hành, hoặc là tác giả, đồng tác giả của một kết quả nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ đã được cấp bằng độc quyền sáng chế hoặc giải pháp hữu ích trong nước hoặc quốc tế.

Bên cạnh đó, nghiên cứu sinh phải có hai bài báo đăng trên tạp chí khoa học trong nước thuộc danh mục tạp chí khoa học quốc gia loại I theo tiêu chuẩn khoa học Việt Nam do Bộ Khoa học và Công nghệ công bố hằng năm.

Lãnh đạo trường đại học và viện nghiên cứu cho rằng đây là một yêu cầu tương đối khó, nhưng rất cần thiết để nâng cao chất lượng đào tạo trình độ tiến sĩ lĩnh vực Sản xuất và chế biến.

Yêu cầu mới là thách thức, cũng là động lực

Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Tiến sĩ Quách Hoài Nam - Hiệu trưởng Trường Đại học Nha Trang bày tỏ: “Theo tôi, yêu cầu này có tính thách thức, nhưng hoàn toàn có thể thực hiện nếu nghiên cứu sinh có sự chuẩn bị tốt và được đào tạo, hướng dẫn từ cơ sở đào tạo.

Tôi cho rằng, yêu cầu mới không chỉ đặt ra trách nhiệm đối với nghiên cứu sinh mà còn đòi hỏi cơ sở đào tạo và người hướng dẫn phải nâng cao chất lượng nghiên cứu, hỗ trợ người học ngay từ khâu xác định đề tài, xây dựng phương pháp nghiên cứu đến công bố kết quả. Đặc biệt, trong bối cảnh trong bối cảnh công nghệ số, AI phát triển như hiện nay, cộng với năng lực ngoại ngữ của người học ngày một tốt lên thì yêu cầu công bố quốc tế như quy định vừa là động lực vừa là cơ hội để người học phát triển, hội nhập nhanh hơn.

Nếu được triển khai đồng bộ, đây sẽ là động lực để nâng cao chất lượng đào tạo tiến sĩ, từng bước nâng cao năng lực nghiên cứu và khả năng hội nhập quốc tế của đội ngũ khoa học Việt Nam”.

hieu-truong-nha-trang-1.jpg
Tiến sĩ Quách Hoài Nam - Hiệu trưởng Trường Đại học Nha Trang. Ảnh: Website nhà trường

Cùng bàn luận về chủ đề này, Tiến sĩ Nguyễn Bảo Ngọc - Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Công nghiệp rừng, Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam nhận xét, yêu cầu công bố khoa học tại Quyết định số 3026/QĐ-BGDĐT là tương đối cao so với điều kiện nghiên cứu hiện nay của nhiều cơ sở đào tạo tại Việt Nam, đặc biệt đối với các ngành có tính thực nghiệm và ứng dụng cao. Tuy nhiên, đây là những yêu cầu phù hợp, cần thiết nhằm nâng cao chất lượng đào tạo tiến sĩ, từng bước tiệm cận các chuẩn mực quốc tế.

Đối với lĩnh vực sản xuất và chế biến, nghiên cứu khoa học không chỉ dừng lại ở việc xây dựng mô hình lý thuyết mà thường phải tiến hành nhiều thí nghiệm, chế tạo sản phẩm, kiểm tra các chỉ tiêu kỹ thuật và đánh giá khả năng ứng dụng. Chẳng hạn, trong ngành Công nghệ chế biến lâm sản, để nghiên cứu công nghệ biến tính gỗ, vật liệu gỗ kỹ thuật hoặc chất kết dính thân thiện môi trường, nghiên cứu sinh cần có thiết bị chuyên dụng, nguyên liệu, kinh phí và thời gian thử nghiệm tương đối lớn.

“Yêu cầu có ít nhất 01 công bố quốc tế thuộc danh mục WoS/Scopus cùng với 02 bài báo trên các tạp chí khoa học quốc gia loại I là hợp lý đối với trình độ tiến sĩ. Điều quan trọng là không nên xem công bố khoa học đơn thuần như điều kiện đủ để tốt nghiệp. Một luận án tiến sĩ phải thể hiện được tính mới, đóng góp khoa học và năng lực nghiên cứu độc lập của nghiên cứu sinh.

Vì vậy, nâng cao chuẩn công bố là cần thiết, nhưng cần đi kèm các điều kiện bảo đảm chất lượng nghiên cứu, tránh tình trạng chạy theo số lượng bài báo mà xem nhẹ giá trị khoa học và khả năng ứng dụng thực tiễn” – ông Ngọc bày tỏ.

1793010118665-1771849965299243521-1771849965299243521-93f01ef075b992341ae561bb7434168c.jpg
Tiến sĩ Nguyễn Bảo Ngọc - Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Công nghiệp rừng, Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam. Ảnh: NVCC

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Lý Tuấn Trường - Viện trưởng Viện Công nghiệp gỗ và Nội thất, Trường Đại học Lâm nghiệp cho biết, yêu cầu công bố khoa học đối với nghiên cứu sinh theo Quyết định số 3026/QĐ-BGDĐT là một yêu cầu tương đối cao, nhưng có thể thực hiện được nếu các cơ sở đào tạo có sự chuẩn bị tốt về điều kiện nghiên cứu, đội ngũ hướng dẫn và cơ chế hỗ trợ nghiên cứu sinh.

Điểm đáng chú ý là chuẩn đầu ra mới không chỉ yêu cầu nghiên cứu sinh hoàn thành một luận án tiến sĩ mà còn phải chứng minh được năng lực nghiên cứu thông qua các công bố khoa học có chất lượng. Đây là một bước tiến quan trọng, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo tiến sĩ, tăng cường khả năng hội nhập quốc tế và thúc đẩy hoạt động nghiên cứu khoa học trong các trường đại học.

Tuy nhiên, mức độ khó khăn sẽ khác nhau giữa các ngành và các cơ sở đào tạo. Đối với những lĩnh vực có hệ thống nghiên cứu phát triển, có nhiều nhóm nghiên cứu mạnh và có điều kiện tiếp cận các tạp chí quốc tế, việc đáp ứng chuẩn đầu ra có thể thuận lợi hơn.

Ngược lại, đối với lĩnh vực Sản xuất và chế biến, đặc biệt là các ngành gắn với công nghệ sản xuất, vật liệu và chế biến gỗ, nghiên cứu sinh phải đối mặt với những thách thức đáng kể. Đặc thù của lĩnh vực này là nhiều nghiên cứu đòi hỏi phải tiến hành thực nghiệm, sử dụng thiết bị chuyên dụng, có thời gian nghiên cứu dài và kinh phí tương đối lớn.

Bên cạnh đó, nghiên cứu sinh còn phải đáp ứng đồng thời yêu cầu công bố quốc tế hoặc có kết quả sáng chế, giải pháp hữu ích và hai bài báo trên tạp chí khoa học trong nước thuộc danh mục quy định. Điều này đòi hỏi nghiên cứu sinh không những phải có năng lực nghiên cứu thực sự, mà cần có kế hoạch công bố khoa học từ sớm và được hỗ trợ xuyên suốt quá trình đào tạo.

"Tôi cho rằng, điều quan trọng không phải là tăng hay giảm yêu cầu công bố khoa học, mà là tạo ra những điều kiện để nghiên cứu sinh có thể đáp ứng các yêu cầu đó một cách thực chất, hiệu quả và phù hợp với đặc thù của từng ngành.

Một lo ngại khác là khi các cơ sở đào tạo và nghiên cứu đặt ra yêu cầu cao về công bố quốc tế, các nhà khoa học sẽ có xu hướng ưu tiên những kết quả nghiên cứu có khả năng đăng trên các tạp chí WoS/Scopus.

Điều này có thể dẫn đến hệ quả là các nhà khoa học có năng lực tốt, đặc biệt là những người có nhiều kết quả nghiên cứu giá trị, sẽ ưu tiên gửi bài cho các tạp chí quốc tế. Các tạp chí trong nước có thể gặp khó khăn hơn trong việc thu hút những công trình nghiên cứu chất lượng cao.

Các nghiên cứu sinh và giảng viên trẻ có thể coi công bố trong nước là yêu cầu mang tính thủ tục, thay vì một kênh quan trọng để trao đổi học thuật và phổ biến tri thức. Các tạp chí trong nước khó tích lũy được những công trình nghiên cứu có tính đột phá, từ đó hạn chế khả năng nâng cao chất lượng phản biện, uy tín học thuật và hội nhập quốc tế.

Đặc biệt, đối với các lĩnh vực ứng dụng như Sản xuất và chế biến, nhiều kết quả nghiên cứu có giá trị trực tiếp đối với doanh nghiệp, cơ quan quản lý và hoạt động sản xuất trong nước. Nếu các nhà khoa học chỉ tập trung công bố quốc tế, những kết quả này có thể chưa được chuyển tải hiệu quả đến các đối tượng cần tiếp cận" - thầy Trường bày tỏ.

25a06025-1-768x579.jpg
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Lý Tuấn Trường - Viện trưởng Viện Công nghiệp gỗ và Nội thất, Trường Đại học Lâm nghiệp. Ảnh: Website nhà trường

Cần tạo điều kiện để nghiên cứu sinh có công bố khoa học

Theo thầy Nam, đứng ở góc độ quản trị trường đại học, khó khăn lớn nhất của nghiên cứu sinh không chỉ nằm ở yêu cầu công bố quốc tế, mà còn ở các điều kiện để hỗ trợ tạo ra những kết quả nghiên cứu đủ chất lượng.

Thứ nhất, đặc thù đào tạo trong lĩnh vực Sản xuất và chế biến có những hướng nghiên cứu đòi hỏi phòng thí nghiệm, thiết bị chuyên dụng và kinh phí thực nghiệm lớn. Trong khi đó, điều kiện cơ sở vật chất và nguồn lực nghiên cứu ở các cơ sở đào tạo còn chưa đồng đều.

Thứ hai, nguồn kinh phí dành cho nghiên cứu sinh, đặc biệt là kinh phí thực hiện thí nghiệm, tham gia hội nghị và công bố khoa học, còn hạn chế. Việc tiếp cận các đề tài, dự án nghiên cứu và học bổng hỗ trợ cũng chưa được như kỳ vọng.

Thứ ba, trong thực tế có nhiều nghiên cứu sinh vừa học tập, nghiên cứu nhưng vừa đảm nhiệm công việc tại cơ quan công tác. Quỹ thời gian dành cho nghiên cứu chưa đủ tập trung, ảnh hưởng đến tiến độ và chất lượng công bố.

Để tháo gỡ những khó khăn này, cần có giải pháp đồng bộ từ các bên liên quan. Nhà nước cần tăng cường đầu tư cho hạ tầng nghiên cứu, mở rộng các chương trình học bổng và hỗ trợ kinh phí cho nghiên cứu sinh. Nghị định số 179/2026/NĐ-CP về chính sách học bổng cho người học các ngành khoa học cơ bản, kỹ thuật then chốt và công nghệ chiến lược là một trong những chính sách hỗ trợ tài chính đáng chú ý.

Các trường đại học cần gắn đào tạo tiến sĩ với đề tài khoa học, dự án nghiên cứu; tăng cường hợp tác, chia sẻ phòng thí nghiệm và kết nối các nhóm nghiên cứu trong nước, quốc tế. Đồng thời, có cơ chế phù hợp để nghiên cứu sinh có điều kiện dành nhiều thời gian hơn cho học tập và nghiên cứu.

Điều quan trọng là nâng cao yêu cầu đầu ra phải đi đôi với bảo đảm điều kiện thực hiện. Khi nghiên cứu sinh được hỗ trợ đúng mức, người hướng dẫn phát huy đầy đủ vai trò và nhà trường có môi trường nghiên cứu tốt, yêu cầu công bố khoa học sẽ trở thành động lực nâng cao chất lượng đào tạo tiến sĩ, thay vì chỉ là áp lực về thủ tục đầu ra.

Trong thời gian qua, trong công tác đào tạo tiến sĩ ở Trường Đại học Nha Trang, nhà trường đã và đang đặc biệt quan tâm, chú trọng nâng cao chất lượng đào tạo, gắn đào tạo với nghiên cứu khoa học và hội nhập quốc tế. Nghiên cứu sinh được học tập, nghiên cứu cùng đội ngũ giảng viên có năng lực chuyên môn, kinh nghiệm nghiên cứu và hợp tác khoa học quốc tế. Thực tế, nghiên cứu sinh của trường đã có những công bố khoa học trên các tạp chí quốc tế uy tín.

sinh-vien-truong-dai-hoc-nha-trang-1-20231002092322.jpg
Ảnh minh họa: Phòng thí nghiệm tại Trường Đại học Nha Trang. Ảnh: Website nhà trường

Để đáp ứng chuẩn đầu ra mới, Trường Đại học Nha Trang đang triển khai các nhiệm vụ trước mắt và lâu dài.

Trước hết, nhà trường rà soát toàn diện hệ thống phòng thí nghiệm, trang thiết bị, cơ sở vật chất và đội ngũ giảng viên của các ngành, chương trình đào tạo thuộc lĩnh vực Sản xuất và chế biến. Trên cơ sở đánh giá mức độ đáp ứng các yêu cầu của chuẩn chương trình, nhà trường sẽ xây dựng kế hoạch đầu tư, bổ sung và nâng cấp phù hợp với nhu cầu nghiên cứu và điều kiện thực tế.

Bên cạnh đó, nhà trường xây dựng chính sách phát triển đào tạo sau đại học, trong đó chú trọng hỗ trợ nghiên cứu sinh thông qua các đề tài nghiên cứu, học bổng, tư vấn và hỗ trợ học thuật, tạo điều kiện thuận lợi để người học nâng cao chất lượng nghiên cứu và công bố khoa học.

Đối với đội ngũ giảng viên hướng dẫn, nhà trường tiếp tục đẩy mạnh đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ có trình độ chuyên môn cao, năng lực nghiên cứu tốt, có kinh nghiệm công bố quốc tế và uy tín học thuật. Đây là lực lượng nòng cốt trong định hướng nghiên cứu, hướng dẫn và hỗ trợ nghiên cứu sinh hoàn thành luận án, đáp ứng chuẩn đầu ra.

“Quan điểm của nhà trường là đầu tư đồng bộ cả về cơ sở vật chất, nguồn lực nghiên cứu và chất lượng đội ngũ, nhằm bảo đảm chuẩn đầu ra được thực hiện thực chất, gắn với nâng cao chất lượng đào tạo tiến sĩ” – thầy Nam cho hay.

Theo thầy Trường, nghiên cứu sinh trong lĩnh vực Sản xuất và chế biến có thể đối mặt với bốn nhóm khó khăn chính.

Trước hết là điều kiện và kinh phí nghiên cứu. Nhiều đề tài cần thực hiện trong phòng thí nghiệm với thiết bị chuyên dụng, vật tư tiêu hao và quy trình thử nghiệm phức tạp. Khi cơ sở đào tạo chưa đáp ứng đầy đủ các điều kiện nghiên cứu, nghiên cứu sinh có thể gặp khó khăn trong việc tìm kiếm địa điểm thực nghiệm, thuê thiết bị hoặc phối hợp với các đơn vị bên ngoài.

Thứ hai là năng lực nghiên cứu và công bố quốc tế. Công bố trên các tạp chí thuộc hệ thống WoS hoặc Scopus đòi hỏi nghiên cứu có tính mới, phương pháp chặt chẽ, dữ liệu đáng tin cậy và khả năng trình bày bằng tiếng Anh chuyên ngành. Với những nghiên cứu sinh chưa có nhiều kinh nghiệm, việc xây dựng bài báo và lựa chọn tạp chí phù hợp là thách thức không nhỏ.

Khó khăn thứ ba liên quan đến thời gian và tiến độ đào tạo. Nghiên cứu sinh phải đồng thời thực hiện luận án, hoàn thành các học phần và yêu cầu về công bố khoa học, trong khi nhiều nghiên cứu thực nghiệm cần thời gian dài để thu thập dữ liệu, kiểm chứng kết quả và hoàn thiện bài báo.

Bên cạnh đó, việc kết nối với các nhóm nghiên cứu và doanh nghiệp cũng là một trở ngại. Nhiều vấn đề có giá trị thực tiễn cao nhưng chưa được tổ chức thành các chương trình nghiên cứu liên tục, khiến nghiên cứu sinh phải tự tìm kiếm nguồn dữ liệu, đối tác thực nghiệm và kinh phí nghiên cứu.

Để tháo gỡ những khó khăn, thầy Trường cho rằng các cơ sở đào tạo cần đầu tư có trọng điểm cho cơ sở vật chất và phòng thí nghiệm, đồng thời tăng cường liên kết, sử dụng chung trang thiết bị giữa các trường đại học, viện nghiên cứu và doanh nghiệp.

Theo thầy, bên cạnh trang thiết bị, cần bảo đảm các điều kiện vận hành phòng thí nghiệm, từ đội ngũ kỹ thuật viên, vật tư nghiên cứu đến kinh phí hoạt động. Đối với lĩnh vực chế biến gỗ và nội thất, việc đầu tư cần gắn với các hướng nghiên cứu trọng điểm như vật liệu gỗ, công nghệ chế biến, chất lượng sản phẩm và các yếu tố môi trường tác động đến sản phẩm.

Cùng với đầu tư cơ sở vật chất, các cơ sở đào tạo cần chú trọng bồi dưỡng kỹ năng nghiên cứu, xử lý dữ liệu, viết bài báo khoa học bằng tiếng Anh và đạo đức nghiên cứu. Nghiên cứu sinh cần được tham gia các nhóm, đề tài nghiên cứu ngay từ đầu chương trình đào tạo và xây dựng kế hoạch công bố gắn với tiến độ thực hiện luận án.

Đề cập đến vai trò của giảng viên hướng dẫn, thầy Trường cho rằng đây là một trong những yếu tố có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng đào tạo tiến sĩ. Giảng viên không chỉ cần có năng lực nghiên cứu và kinh nghiệm công bố khoa học mà còn phải có khả năng hướng dẫn nghiên cứu sinh trong toàn bộ quá trình, từ xây dựng vấn đề nghiên cứu, thiết kế thực nghiệm, xử lý dữ liệu đến viết và công bố bài báo.

Với những đề tài phức tạp, cần phát triển mô hình hướng dẫn theo nhóm nghiên cứu liên ngành, kết hợp chuyên môn của các nhà khoa học trong những lĩnh vực khác nhau. Đồng thời, cần có cơ chế đánh giá, khuyến khích giảng viên dựa trên chất lượng đào tạo và mức độ đóng góp thực chất đối với kết quả nghiên cứu của nghiên cứu sinh.

Thầy Trường nhấn mạnh, chuẩn đầu ra mới chỉ có thể phát huy hiệu quả khi đi kèm với việc nâng cao năng lực nghiên cứu của các cơ sở đào tạo. Nếu chỉ tăng yêu cầu về công bố mà không đầu tư tương xứng cho cơ sở vật chất, kinh phí và đội ngũ hướng dẫn, quy định mới có thể tạo áp lực cho nghiên cứu sinh nhưng chưa chắc nâng cao được chất lượng nghiên cứu.

Ngược lại, nếu được xem là động lực để nâng cấp điều kiện nghiên cứu, phát triển các nhóm nghiên cứu và tăng cường hợp tác với doanh nghiệp, yêu cầu mới có thể trở thành cơ hội nâng cao chất lượng đào tạo tiến sĩ và năng lực nghiên cứu của các trường đại học.

Theo Tiến sĩ Nguyễn Bảo Ngọc, cần chú trọng nâng cao chất lượng nghiên cứu ngay từ khâu lựa chọn đề tài, bảo đảm tính mới và khả năng công bố quốc tế. Các cơ sở đào tạo cần tăng cường hợp tác với viện nghiên cứu, doanh nghiệp và các nhóm nghiên cứu quốc tế; đồng thời hỗ trợ kinh phí, cơ sở vật chất và đào tạo kỹ năng nghiên cứu, viết bài khoa học cho nghiên cứu sinh.

Về phía người học, nghiên cứu sinh cần chủ động nâng cao trình độ ngoại ngữ, phương pháp nghiên cứu và tư duy khoa học độc lập. Việc nâng cao chuẩn đào tạo cần đi đôi với tăng cường trách nhiệm của cả nghiên cứu sinh và người hướng dẫn, thay vì hạ thấp yêu cầu về công bố khoa học.

Theo ông Ngọc, để đáp ứng chuẩn đào tạo tiến sĩ mới, các cơ sở đào tạo cần đầu tư đồng bộ về cơ sở vật chất, môi trường nghiên cứu và chất lượng đội ngũ hướng dẫn, trong đó cần ưu tiên nâng cao năng lực nghiên cứu thực chất thay vì chỉ tập trung vào số lượng trang thiết bị.

Đối với lĩnh vực sản xuất và chế biến, như ngành Công nghệ chế biến lâm sản, nghiên cứu thường đòi hỏi hệ thống thiết bị chuyên dụng để chế tạo mẫu, phân tích cấu trúc, đánh giá tính chất vật liệu và kiểm chứng kết quả thực nghiệm. Tuy nhiên, trong điều kiện nguồn lực còn hạn chế, tôi cho rằng không nhất thiết mỗi cơ sở đào tạo phải đầu tư đầy đủ tất cả các thiết bị hiện đại.

Thay vào đó, cần đầu tư có trọng tâm, đồng thời tăng cường liên kết và sử dụng chung phòng thí nghiệm giữa các trường đại học, viện nghiên cứu và doanh nghiệp. Đây là giải pháp phù hợp với điều kiện Việt Nam, vừa tiết kiệm nguồn lực, vừa tạo điều kiện để nghiên cứu sinh tiếp cận các công nghệ và vấn đề thực tiễn của sản xuất.

“Bên cạnh cơ sở vật chất, chất lượng đội ngũ hướng dẫn có vai trò đặc biệt quan trọng. Theo tôi, người hướng dẫn không chỉ cần đáp ứng các tiêu chuẩn về học vị, chức danh và công bố khoa học theo quy định mà còn phải duy trì hoạt động nghiên cứu thường xuyên, có kinh nghiệm công bố quốc tế và khả năng định hướng những vấn đề nghiên cứu có tính mới. Đặc biệt, người hướng dẫn cần có năng lực xây dựng nhóm nghiên cứu, kết nối hợp tác quốc tế và hỗ trợ nghiên cứu sinh từ khâu thiết kế thí nghiệm đến phân tích kết quả, công bố khoa học.

Ngoài ra, các cơ sở đào tạo cần có cơ chế hỗ trợ kinh phí nghiên cứu, khuyến khích hợp tác quốc tế và gắn trách nhiệm của người hướng dẫn với chất lượng luận án.

Tôi cho rằng, muốn đào tạo được tiến sĩ có chất lượng thì trước hết phải xây dựng được môi trường nghiên cứu có chất lượng. Chuẩn đầu ra cao là cần thiết, nhưng phải đi kèm với năng lực đào tạo và trách nhiệm tương xứng của cơ sở đào tạo, người hướng dẫn và nghiên cứu sinh” – ông Ngọc bày tỏ.

Trần Trang