Tiến sĩ Đặng Tự Ân: Cần đánh giá năng lực quản trị và hiệu quả của "siêu trường" sau sắp xếp CSGD

01/11/2026 07:26
Thi Thi

GDVN - Sáp nhập trường học là sự thay đổi về tổ chức, nhưng hiệu quả cuối cùng phải được thể hiện trong hoạt động giáo dục hàng ngày.

Theo văn bản số 523/TB-VPCP ngày 13/10/2026 thông báo Kết luận của Phó Thủ tướng Chính phủ tại cuộc họp về tiến độ sắp xếp các cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông; tình hình, tiến độ triển khai xây dựng và vận hành các trường phổ thông nội trú liên cấp tại các xã biên giới: Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố chịu trách nhiệm trực tiếp về kết quả sắp xếp và vận hành các cơ sở giáo dục trên địa bàn; trong đó rà soát toàn bộ cơ sở giáo dục quy mô lớn, nhiều cấp học, nhiều phân hiệu, nhiều điểm trường, địa bàn rộng, nhất là đối với 114 cơ sở có trên 100 lớp; kịp thời điều chỉnh phù hợp đối với những cơ sở vượt khả năng quản trị, ảnh hưởng đến chất lượng, an toàn hoặc quyền học tập của học sinh; hoàn thành trong tháng 10 năm 2026.

Tại tỉnh Khánh Hòa, ngày 26/10, ông Nguyễn Văn Minh - Chủ tịch Ủy ban Nhân dân phường Nam Nha Trang đã ký báo cáo số 6823/BC-UBND, về đánh giá thực trạng tổ chức và hoạt động của các trường mầm non, tiểu học, trung học cơ sở công lập sau sắp xếp trên địa bàn phường Nam Nha Trang: Tác động đối với chất lượng giáo dục giai đoạn 2026-2030 về đề xuất phương án tổ chức lại.

Lãnh đạo phường kiến nghị Ủy ban Nhân dân tỉnh Khánh Hòa chỉ đạo nghiên cứu, hướng dẫn việc điều chỉnh các trường có quy mô trên 100 lớp, nhiều phân hiệu, địa bàn rộng. Phường cũng đề nghị Sở Giáo dục và Đào tạo chủ trì, phối hợp với Sở Nội vụ, Sở Tài chính ban hành tiêu chí cụ thể, lộ trình thực hiện phù hợp.

Trong đó cần làm rõ các tiêu chí về quy mô số lớp, số lượng học sinh, số lượng phân hiệu, điểm trường, khoảng cách địa lý, phạm vi quản lý, điều kiện cơ sở vật chất, năng lực quản trị nhà trường và các điều kiện đảm bảo chất lượng giáo dục; làm cơ sở để các địa phương rà soát, đánh giá và lựa chọn phương án tổ chức phù hợp với đặc điểm địa bàn.

Đồng thời, hướng dẫn cụ thể về mô hình tổ chức, cơ cấu bộ máy, vị trí việc làm, số lượng cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên, phương án bố trí, sắp xếp nhân sự, phân bổ và bàn giao tài chính, tài sản, kinh phí hoạt động, cùng với các điều kiện cần thiết khác khi thực hiện chia tách, tổ chức lại trường học.

Một số chuyên gia cho rằng, việc sắp xếp trường học không nên chỉ dừng ở yêu cầu tinh gọn đầu mối mà cần được đặt trong bài toán tổng thể về quy mô, địa bàn, năng lực quản trị cũng như đảm bảo chất lượng dạy và học.

Mỗi phương án sắp xếp cần được đánh giá trên cơ sở thực tiễn, làm rõ tính phù hợp của mô hình tổ chức, khả năng bảo đảm các điều kiện dạy học và trách nhiệm của từng cấp quản lý trong quá trình triển khai. Điều quan trọng là mọi quyết định tổ chức lại trường học đều phải hướng đến mục tiêu nâng cao chất lượng giáo dục, bảo đảm quyền lợi của người học và sử dụng hiệu quả nguồn lực công.

Nếu không có phương án tổ chức phù hợp, ban giám hiệu có thể quá tải

Trao đổi với phóng viên, Tiến sĩ Đặng Tự Ân - Giám đốc Quỹ Hỗ trợ đổi mới giáo dục Việt Nam, nguyên Vụ trưởng Vụ Giáo dục phổ thông (Bộ Giáo dục và Đào tạo) cho rằng, sáp nhập trường học nhằm tinh gọn đầu mối quản lý, sử dụng hiệu quả nguồn lực là chủ trương cần được xem xét trên cơ sở thực tiễn. Tuy nhiên, với những trường có quy mô lớn, bài toán quản trị sau sáp nhập cần được nghiên cứu thấu đáo và giải quyết bằng các giải pháp phù hợp.

Điều cốt lõi là làm thế nào để quản trị hiệu quả một hệ thống giáo dục mới, gồm hàng chục điểm trường, hàng trăm lớp học và hàng nghìn học sinh, trong khi các cơ sở có thể cách xa nhau, mà vẫn bảo đảm chất lượng dạy học, công bằng trong tiếp cận giáo dục và trách nhiệm giải trình.

Theo Tiến sĩ Đặng Tự Ân, muốn nâng cao hiệu quả, trước hết cần thay đổi tư duy quản lý. Không thể giữ nguyên mô hình điều hành một trường học tập trung trong một khuôn viên để áp dụng cho một trường có nhiều phân hiệu, điểm trường nằm rải rác trên địa bàn rộng.

Đây không chỉ là sự thay đổi về quy mô mà còn kéo theo những yêu cầu mới về cơ cấu tổ chức, phân quyền, quản lý nhân sự, tài chính, dữ liệu và trách nhiệm giải trình. Mô hình trường học đa phân hiệu, có quy mô lớn và địa bàn phân tán, đòi hỏi phương thức quản trị đặc thù, được nghiên cứu, thiết kế và kiểm nghiệm phù hợp với điều kiện thực tế.

Một sai lầm có thể gặp sau sáp nhập là giữ nguyên phương thức vận hành của các trường trước đây, chỉ thay đổi người đứng đầu rồi ghép các đơn vị vào một cơ cấu quản lý chung.

1793246245550-7170403635713782335-7170403635713782335-16c87e059811cddd5ad56da54e88264e.jpg
Tiến sĩ Đặng Tự Ân - Giám đốc Quỹ Hỗ trợ đổi mới giáo dục Việt Nam, nguyên Vụ trưởng Vụ Giáo dục phổ thông (Bộ Giáo dục và Đào tạo). Ảnh: NVCC.

Vì vậy, Tiến sĩ Ân cho rằng, cần chuyển từ tư duy "quản lý nhiều trường" sang tư duy "thiết kế và vận hành một hệ thống giáo dục thống nhất, gồm nhiều điểm cung cấp dịch vụ giáo dục".

"Nguyên tắc xuyên suốt là sáp nhập bộ máy quản lý nhưng không triệt tiêu tính chủ động của từng phân hiệu; thống nhất tiêu chuẩn toàn hệ thống nhưng linh hoạt trong tổ chức thực hiện tại mỗi địa bàn.

Quy mô lớn không đồng nghĩa với năng lực quản trị cao. Khi số lượng điểm trường tăng, địa bàn quản lý mở rộng, yêu cầu về năng lực điều hành, hệ thống thông tin và cơ chế phân quyền cũng phải được nâng lên tương ứng. Nếu không có phương án tổ chức phù hợp, ban giám hiệu có thể quá tải, trong khi khoảng cách về điều kiện dạy học và chất lượng giáo dục giữa các điểm trường có nguy cơ gia tăng", Tiến sĩ nhấn mạnh.

Quản trị hiệu quả mới là thước đo thành công của sáp nhập

Nguyên Vụ trưởng Vụ Giáo dục phổ thông (Bộ Giáo dục và Đào tạo) nhìn nhận, sáp nhập trường học là sự thay đổi về tổ chức, nhưng hiệu quả cuối cùng phải được thể hiện trong hoạt động giáo dục hằng ngày.

Một cơ cấu mới chỉ thực sự có ý nghĩa khi giúp nhà trường sử dụng nguồn lực tốt hơn, hỗ trợ giáo viên hiệu quả hơn, giải quyết công việc kịp thời hơn và bảo đảm mọi học sinh đều được tiếp cận giáo dục có chất lượng.

Đối với các trường có quy mô lớn và địa bàn phân tán, yêu cầu đặt ra không phải là tập trung mọi quyền lực về một đầu mối, mà là xây dựng một hệ thống quản trị thống nhất, có phân quyền rõ ràng, dữ liệu thông suốt và cơ chế chịu trách nhiệm đến từng phân hiệu.

Cần tránh việc duy trì cách quản lý cũ khiến ban giám hiệu quá tải, các phân hiệu thiếu liên kết; hoặc tập trung hóa quá mức, làm mất tính chủ động của cơ sở, gia tăng thủ tục và kéo dài thời gian xử lý công việc.

Giải pháp phù hợp là kết hợp quản trị tập trung đối với chiến lược, tiêu chuẩn và phân bổ nguồn lực với phân quyền có kiểm soát trong tổ chức thực hiện. Mỗi cấp quản lý cần làm đúng vai trò, mỗi phân hiệu cần có đầu mối chịu trách nhiệm và mọi quyết định quan trọng phải dựa trên thông tin đáng tin cậy.

Quan trọng hơn cả, việc đánh giá thành công không thể dừng ở số lượng trường được sáp nhập hay số biên chế được tinh giản. Thước đo cuối cùng phải là chất lượng dạy và học, mức độ an toàn của học sinh, điều kiện làm việc của giáo viên, sự công bằng giữa các điểm trường và hiệu quả sử dụng nguồn lực.

Đó cũng là cơ sở để xác định một trường học quy mô lớn có thực sự trở thành hệ thống giáo dục hoạt động hiệu quả hay chỉ là sự hợp nhất về mặt hành chính.

Cần đánh giá năng lực quản trị trước và sau sáp nhập

Cũng theo Tiến sĩ Đặng Tự Ân, cần xác định ngưỡng quy mô phù hợp với năng lực quản trị. Không phải cứ sáp nhập nhiều cơ sở thành một trường là tạo ra hiệu quả. Nếu bộ máy quản lý, hệ thống dữ liệu và năng lực lãnh đạo không được nâng cấp tương ứng, quy mô lớn có thể làm gia tăng khoảng cách giữa trung tâm quản lý với giáo viên và học sinh.

Do đó, cần đánh giá năng lực quản trị trước và sau sáp nhập, có tính đến số lượng điểm trường, khoảng cách địa lý, điều kiện giao thông, quy mô học sinh, đặc điểm dân cư, năng lực đội ngũ và nguồn lực tài chính. Khi quy mô vượt quá khả năng điều hành hiệu quả, xem xét điều chỉnh cơ cấu phụ trách, tăng cường phân quyền hoặc lựa chọn phương án tổ chức phù hợp hơn.

Bên cạnh đó, không lấy số đầu mối giảm được làm thước đo duy nhất của thành công. Hiệu quả sáp nhập cần được đánh giá bằng những câu hỏi cụ thể: Học sinh có được học tập trong điều kiện an toàn và tốt hơn không? Giáo viên có thêm điều kiện tập trung vào hoạt động dạy học không? Nguồn lực có được sử dụng hiệu quả hơn không? Những khó khăn tại các điểm trường có được giải quyết kịp thời, đúng thẩm quyền và đúng trách nhiệm không?

Các chỉ số đánh giá phản ánh đồng thời hiệu quả quản lý, chất lượng giáo dục, mức độ công bằng giữa các địa bàn và chi phí vận hành thực tế.

Ngoài ra, theo Tiến sĩ Ân, ban giám hiệu cũng nên quy định những chuẩn mực chung về chất lượng đầu ra, đánh giá học sinh, an toàn trường học, đạo đức nghề nghiệp và các yêu cầu bắt buộc khác. Trên cơ sở đó, giáo viên và người phụ trách phân hiệu được chủ động lựa chọn phương pháp tổ chức dạy học phù hợp với điều kiện địa phương.

Thống nhất quản trị không có nghĩa là áp dụng máy móc một cách làm cho mọi điểm trường. Ngược lại, hệ thống càng lớn càng cần phân biệt rõ những nội dung bắt buộc thống nhất với những nội dung cần linh hoạt.

Đồng thời, xây dựng mạng lưới chuyên gia dùng chung. Các chuyên gia môn học, giáo dục đặc biệt, công nghệ giáo dục và phát triển đội ngũ có thể hỗ trợ nhiều phân hiệu thông qua sinh hoạt chuyên môn trực tuyến, hội thảo chuyên đề, tư vấn tại chỗ và các đợt công tác thực địa.

Cách làm này giúp mở rộng khả năng tiếp cận chuyên môn của những điểm trường xa trung tâm, đồng thời hạn chế tình trạng mỗi cơ sở phải tự giải quyết mọi khó khăn trong điều kiện nguồn lực hạn chế.

818463681-122113343061460998-1779886128881893804-n.jpg
Ảnh minh họa: Trường THCS Nam Nha Trang.

Nguyên tắc tiếp theo được chuyên gia nhấn mạnh là hỗ trợ theo nhu cầu thay vì kiểm tra đồng loạt. Theo đó, những phân hiệu có kết quả tốt cần được trao quyền phù hợp và khuyến khích chia sẻ kinh nghiệm. Những cơ sở gặp khó khăn cần được xác định đúng nguyên nhân, hỗ trợ chuyên sâu và xây dựng kế hoạch cải tiến với mục tiêu, thời hạn cùng người chịu trách nhiệm cụ thể.

Hoạt động kiểm tra cần hướng đến phát hiện vấn đề, hỗ trợ khắc phục và nâng cao chất lượng, thay vì chỉ tập trung vào việc hoàn thành hồ sơ hoặc tuân thủ thủ tục hành chính.

Bên cạnh đó, thiết lập nhịp điều hành phù hợp với địa bàn rộng. Một hệ thống trường học trải rộng cần có lịch điều hành định kỳ, cơ chế cập nhật thông tin và kênh xử lý công việc thống nhất. Tuy nhiên, điều đó không đồng nghĩa với việc tăng số lượng cuộc họp hoặc yêu cầu các phân hiệu liên tục báo cáo.

Cần phân định rõ thông tin nào phải báo cáo thường xuyên, thông tin nào chỉ báo cáo khi phát sinh bất thường và trường hợp nào cần xử lý ngay. Công nghệ số nên được sử dụng để giảm độ trễ thông tin, tiết kiệm thời gian và hỗ trợ ra quyết định, chứ không tạo thêm gánh nặng hành chính cho giáo viên.

"Trao quyền phải đi đôi với trách nhiệm. Một "siêu trường" khó có thể vận hành hiệu quả nếu phó hiệu trưởng phụ trách phân hiệu chỉ là người thực hiện mệnh lệnh từ trung tâm, không có thẩm quyền xử lý công việc tại chỗ. Ngược lại, phân quyền mà thiếu tiêu chuẩn, cơ chế giám sát và trách nhiệm giải trình cũng có thể dẫn đến tình trạng mỗi nơi vận hành theo một cách riêng.

Vì vậy, mỗi cấp quản trị cần được xác định rõ phạm vi công việc, quyền quyết định, nguồn lực được giao, chỉ số đánh giá và trách nhiệm khi không hoàn thành nhiệm vụ. Cơ chế này vừa bảo đảm sự thống nhất của toàn trường, vừa tạo điều kiện để người phụ trách tại chỗ chủ động giải quyết những vấn đề thuộc thẩm quyền", Tiến sĩ Đặng Tự Ân nhấn mạnh.

Đề xuất mô hình quản trị ba tầng cho trường học đa điểm trường

Tiến sĩ Đặng Tự Ân nhìn nhận, đối với những trường có hàng chục cơ sở, hàng trăm lớp học và địa bàn phân tán, có thể nghiên cứu áp dụng mô hình quản trị ba tầng, kết hợp phân quyền thực chất với cơ chế kiểm soát thống nhất.

Tầng thứ nhất là ban giám hiệu quản trị toàn hệ thống. Theo đó, ban giám hiệu chịu trách nhiệm về định hướng phát triển, chất lượng giáo dục tổng thể, quản trị nguồn lực và kết quả hoạt động của toàn trường. Thay vì trực tiếp xử lý mọi công việc thường nhật tại từng điểm trường, ban giám hiệu cần tập trung vào những nhiệm vụ đòi hỏi sự thống nhất trên toàn hệ thống, đồng thời thiết lập cơ chế phối hợp và giám sát phù hợp.

Tầng thứ hai là quản lý cụm phân hiệu hoặc điểm trường. Tùy theo quy mô, địa bàn và điều kiện nhân sự, nhà trường có thể bố trí phó hiệu trưởng phụ trách một phân hiệu hoặc một cụm điểm trường. Điều quan trọng nhất là phải trao quyền thực chất.

Tầng thứ ba là quản lý trực tiếp tại phân hiệu và điểm trường. Tầng quản trị này đặc biệt quan trọng tại những địa bàn xa trung tâm, nơi việc xử lý công việc không thể phụ thuộc hoàn toàn vào sự có mặt trực tiếp của ban giám hiệu.

"Ba tầng trên là ba tầng phân công trách nhiệm quản trị, không nhất thiết đồng nghĩa với việc thành lập thêm ba cấp tổ chức hành chính hoặc phát sinh thêm biên chế.

Bên cạnh cơ cấu phân quyền, nhà trường cần xây dựng hạ tầng điều hành xuyên suốt. Phân quyền chỉ phát huy hiệu quả khi đi cùng hệ thống thông tin, cơ chế kiểm soát và trách nhiệm giải trình. Một trường học đa phân hiệu khó có thể vận hành hiệu quả nếu mỗi cơ sở quản lý dữ liệu theo một cách, sử dụng biểu mẫu báo cáo khác nhau hoặc xử lý công việc theo những quy trình thiếu thống nhất, Tiến sĩ Ân lý giải.

Thi Thi