Hiệu trưởng lo nếu tăng định mức tiết dạy, áp lực công việc đối với giáo viên có thể gia tăng

30/10/2026 06:40
ĐÀO HIỀN

GDVN - Việc tăng định mức tiết dạy không chỉ làm thay đổi khối lượng công việc mà còn đặt ra bài toán bố trí, sử dụng đội ngũ, nguy cơ dôi dư giáo viên cục bộ và bảo đảm quyền lợi của giáo viên tại các nhà trường.

Bộ Giáo dục và Đào tạo đề xuất tăng định mức tiết dạy của giáo viên trung học phổ thông từ 17 lên 19 tiết/tuần trong dự thảo Thông tư quy định chế độ làm việc đối với giáo viên phổ thông, dự bị đại học (thay thế Thông tư số 05/2025/TT-BGDĐT).

Theo lãnh đạo một số cơ sở giáo dục phổ thông, việc điều chỉnh định mức tiết dạy không chỉ liên quan đến thời gian đứng lớp mà còn đặt ra yêu cầu tính toán đầy đủ khối lượng công việc của giáo viên, phương án bố trí đội ngũ và những tác động có thể phát sinh đối với chất lượng dạy học.

Công nghệ hỗ trợ dạy học nhưng giáo viên vẫn khó giảm tải công việc

Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, thầy Nguyễn Đình Thái - Hiệu trưởng Trường Trung học phổ thông Hòa Hội (xã Hòa Hội, Thành phố Hồ Chí Minh) cho rằng, nếu chỉ xét về số giờ đứng lớp như quy định hiện nay, định mức 17 tiết/tuần có thể không nhiều. Tuy nhiên, để hoàn thành số tiết dạy này, giáo viên phải thực hiện khối lượng công việc đáng kể trước, trong và sau giờ lên lớp.

Theo đánh giá của thầy Thái, yêu cầu đối với giáo viên hiện nay đã thay đổi so với trước đây. Nếu trước kia, việc chuẩn bị bài giảng chủ yếu được thực hiện trên giấy, thì hiện nay giáo viên còn phải xây dựng kế hoạch bài dạy trên môi trường điện tử, thiết kế bài giảng tương tác và tổ chức các hoạt động học tập cho học sinh thông qua hệ thống quản lý học tập (LMS).

Những công việc này đòi hỏi giáo viên đầu tư nhiều thời gian, công sức để đáp ứng yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học.

Bên cạnh đó, hoạt động kiểm tra, đánh giá học sinh ngày càng đa dạng, không chỉ dừng lại ở việc chấm bài, cho điểm mà còn bao gồm nhập điểm, xử lý số liệu và theo dõi kết quả học tập. Giáo viên cũng phải thực hiện nhiều nhiệm vụ khác theo sự phân công của nhà trường, trong đó có công tác chủ nhiệm và các công việc kiêm nhiệm.

Chẳng hạn, dù định mức quy đổi tiết dạy đối với giáo viên chủ nhiệm là 4 tiết/tuần, thời gian thực tế dành cho việc quản lý lớp, nắm bắt tình hình học sinh và xử lý các vấn đề phát sinh có thể lớn hơn nhiều so với số tiết được quy đổi.

“Trên thực tế, khối lượng công việc của giáo viên không thể chỉ tính bằng số giờ đứng lớp trong một tuần. Có những nhiệm vụ được thực hiện ngoài giờ lên lớp, từ chuẩn bị bài dạy, chấm bài đến xử lý các tình huống phát sinh trong quá trình giáo dục học sinh. Vì vậy, nếu chỉ căn cứ vào số tiết dạy để đánh giá thời gian lao động của giáo viên thì chưa phản ánh đầy đủ tính chất đặc thù của nghề nghiệp”, thầy Thái chia sẻ.

Từ thực tế đó, Hiệu trưởng Trường Trung học phổ thông Hòa Hội cho rằng, nếu tăng định mức tiết dạy, áp lực công việc đối với giáo viên có thể gia tăng, nhất là khi các nhiệm vụ chuyên môn và công tác kiêm nhiệm vẫn phải được bảo đảm. Do đó, việc điều chỉnh định mức cần được xem xét trong mối tương quan với tổng khối lượng công việc mà giáo viên phải đảm nhận, thay vì chỉ nhìn vào số tiết đứng lớp.

Một vấn đề khác được thầy Thái đặt ra là tác động của việc tăng định mức đến công tác bố trí, sử dụng đội ngũ tại các nhà trường. Khi mỗi giáo viên đảm nhận số tiết dạy nhiều hơn, nhu cầu sử dụng giáo viên có thể thay đổi, dẫn đến nguy cơ dôi dư ở một số môn học hoặc cơ sở giáo dục.

Khi đó, bài toán điều chuyển, sắp xếp lại đội ngũ sẽ cần được tính toán như thế nào để vừa sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực, vừa bảo đảm quyền lợi của giáo viên và sự ổn định trong hoạt động dạy học cũng là vấn đề cần được cân nhắc.

857821187-1050102994723387-845263258086896322-n.jpg
Hiện nay, yêu cầu đối với giáo viên đã thay đổi nhiều so với trước đây. Ảnh minh họa: Trường THPT Hòa Hội (Thành phố Hồ Chí Minh).

Cùng bàn về khối lượng công việc thực tế của giáo viên, thầy Nguyễn Minh Phi – Hiệu trưởng Trường Trung học phổ thông Hoàng Văn Thụ (Hà Nội) cho rằng, việc xác định định mức tiết dạy cần tính đến những thay đổi trong yêu cầu chuyên môn của giáo viên hiện nay, đặc biệt là quá trình ứng dụng công nghệ thông tin và trí tuệ nhân tạo (AI) vào dạy học.

Theo thầy Phi, AI có thể hỗ trợ giáo viên trong quá trình xây dựng kế hoạch bài dạy, thiết kế học liệu hoặc thực hiện một số công việc chuyên môn. Tuy nhiên, sản phẩm do AI tạo ra không thể sử dụng nguyên trạng mà cần được giáo viên kiểm tra, điều chỉnh để phù hợp với mục tiêu bài học và đặc điểm của học sinh. Giáo viên vẫn phải là người chủ động xây dựng ý tưởng, lựa chọn phương pháp và quyết định cách thức tổ chức dạy học.

Thầy Phi phân tích, ngay trong cùng một trường học, trình độ nhận thức, năng lực tiếp thu và đặc điểm học tập của học sinh giữa các lớp cũng có sự khác biệt. Vì vậy, giáo viên cần linh hoạt điều chỉnh nội dung, phương pháp và mức độ yêu cầu của bài học cho từng đối tượng. Đây là quá trình đòi hỏi sự am hiểu thực tế lớp học và khả năng đánh giá của người dạy, trong khi AI chưa thể thay thế hoàn toàn vai trò đó.

Tương tự, trong kiểm tra, đánh giá, AI có thể hỗ trợ chấm một số dạng câu hỏi trắc nghiệm, nhưng việc đánh giá năng lực, sự tiến bộ và những khó khăn cụ thể của từng học sinh vẫn cần sự tham gia trực tiếp của giáo viên. Trên thực tế, công nghệ có thể hỗ trợ một phần công việc, song không đồng nghĩa với việc giáo viên được giảm tương ứng thời gian và công sức lao động.

“Để có một tiết dạy, giáo viên có thể phải dành ít nhất một tiết để chuẩn bị kế hoạch bài dạy. Nếu chỉ nhìn vào số phút của một tiết học mà chưa tính đến thời gian chuẩn bị, đánh giá học sinh và những công việc chuyên môn khác thì sẽ chưa phản ánh đầy đủ khối lượng lao động thực tế của giáo viên”, thầy Phi chia sẻ.

Bên cạnh đó, thầy Phi cho rằng, sự phát triển của công nghệ còn đặt ra những yêu cầu mới đối với đội ngũ giáo viên. Để ứng dụng hiệu quả các công cụ số và AI, giáo viên phải thường xuyên cập nhật kiến thức, học hỏi cách sử dụng và điều chỉnh phương pháp làm việc. Quá trình này cũng cần thời gian, trong khi ngoài nhiệm vụ giảng dạy, giáo viên còn phải thực hiện các công việc theo phân công của nhà trường, kể cả những nhiệm vụ phát sinh ngoài giờ làm việc hoặc vào ngày nghỉ.

Từ những phân tích trên, Hiệu trưởng Trường Trung học phổ thông Hoàng Văn Thụ nhấn mạnh, việc xác định định mức làm việc cần căn cứ vào khối lượng và tính chất công việc thực tế mà giáo viên đảm nhận, thay vì chủ yếu dựa trên số tiết đứng lớp.

Đặc biệt, cần tính đến cả những nhiệm vụ chuyên môn, công tác kiêm nhiệm và yêu cầu cập nhật năng lực nghề nghiệp để việc quy định định mức sát thực tế hơn.

793945858-1699747068183484-433518219393799204-n.jpg
Thầy Nguyễn Minh Phi – Hiệu trưởng Trường Trung học phổ thông Hoàng Văn Thụ (Hà Nội). Ảnh: website nhà trường.

Tăng số tiết đứng lớp, bài toán bố trí giáo viên có thể phát sinh

Không chỉ tác động đến khối lượng công việc của giáo viên, đề xuất tăng định mức tiết dạy còn đặt ra bài toán về phân công chuyên môn, bố trí nhân sự và bảo đảm quyền lợi của đội ngũ tại các nhà trường. Nếu điều chỉnh định mức mà chưa tính toán đầy đủ những yếu tố này, quá trình triển khai có thể phát sinh những khó khăn trong thực tiễn quản lý.

Phân tích từ góc độ quản lý nhà trường, thầy Nguyễn Đình Thái cho rằng, việc tăng định mức từ 17 lên 19 tiết/tuần sẽ kéo theo những thay đổi trong phân công giảng dạy, xây dựng thời khóa biểu và bố trí giáo viên. Đáng chú ý, khi mỗi giáo viên đảm nhận số tiết nhiều hơn, một số trường có thể đối mặt với tình trạng dôi dư giáo viên cục bộ ở những môn học nhất định.

Theo thầy Thái, vấn đề này cần được xem xét trong mối liên hệ với cơ chế trả lương và chính sách thu nhập tăng thêm đang được áp dụng tại Thành phố Hồ Chí Minh. Bởi ngoài tiền lương từ ngân sách nhà nước, giáo viên tại thành phố còn có thể được hưởng khoản thu nhập tăng thêm theo quy định.

Vì vậy, nếu xuất hiện tình trạng giáo viên không được bố trí đủ khối lượng công việc theo yêu cầu để đáp ứng điều kiện hưởng khoản thu nhập này, nhà trường sẽ phải giải quyết như thế nào? Việc sắp xếp công việc và bảo đảm quyền lợi cho những giáo viên dôi dư vì thế trở thành vấn đề cần được tính toán ngay từ khâu xây dựng phương án triển khai.

763881183-1353455013615572-5723261664798087385-n.jpg
Thầy Nguyễn Đình Thái - Hiệu trưởng Trường Trung học phổ thông Hòa Hội (xã Hòa Hội, Thành phố Hồ Chí Minh). Ảnh: website nhà trường.

Bên cạnh bài toán nhân sự, thầy Thái cũng bày tỏ lo ngại về tác động của việc tăng định mức đối với chất lượng dạy học. Với những môn học có yêu cầu thực hành, giáo viên không chỉ trực tiếp giảng dạy mà còn phải chuẩn bị thiết bị, học liệu và tổ chức các hoạt động học tập phù hợp. Nếu số tiết đứng lớp tăng lên trong khi quỹ thời gian dành cho công tác chuẩn bị không được bảo đảm, chất lượng thiết kế bài giảng và tổ chức dạy học có thể bị ảnh hưởng.

Theo thầy Thái, trong bối cảnh đổi mới giáo dục đòi hỏi giáo viên phải liên tục cải tiến phương pháp, quan tâm đến sự tiến bộ của từng học sinh, việc đánh giá hiệu quả công việc không nên chỉ dựa vào số tiết đứng lớp. Thay vào đó, cần quan tâm đến chất lượng thực hiện nhiệm vụ chuyên môn và hiệu quả giáo dục mà giáo viên mang lại.

Cùng quan điểm về việc cần xem xét đầy đủ khối lượng công việc của giáo viên trước khi điều chỉnh định mức tiết dạy, thầy Lê Đình Khương – Phó Hiệu trưởng Trường Trung học phổ thông Yên Dũng số 2 (Bắc Ninh) cũng cho rằng: Để thực hiện hiệu quả một tiết dạy, giáo viên không chỉ cần có kiến thức chuyên môn mà còn phải đầu tư thời gian chuẩn bị bài giảng, nghiên cứu tài liệu và tích hợp nhiều nội dung giáo dục mới.

Chưa kể, yêu cầu đối với mỗi tiết học ngày càng cao khi giáo viên phải kết hợp kiến thức môn học với ứng dụng công nghệ, chuyển đổi số, phát triển năng lực số và từng bước khai thác trí tuệ nhân tạo (AI) trong dạy học. Những yêu cầu này đòi hỏi giáo viên liên tục cập nhật kiến thức, đổi mới phương pháp và thiết kế hoạt động học tập phù hợp với học sinh. Vì vậy, nếu chỉ nhìn vào số tiết đứng lớp để đánh giá khối lượng lao động thì chưa phản ánh hết những công việc giáo viên phải thực hiện.

Đánh giá từ thực tế, thầy Khương cho rằng việc điều chỉnh định mức tiết dạy cần gắn với cách tính thời gian chuẩn bị và thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn. Nếu muốn tăng định mức đứng lớp, cơ quan quản lý cần làm rõ cơ sở xác định thời gian dành cho các công việc ngoài giờ lên lớp, thay vì chỉ điều chỉnh số tiết giảng dạy.

“Giáo viên hiện nay không chỉ soạn bài mà còn phải nghiên cứu tài liệu, tích hợp các nội dung mới và chuẩn bị những điều kiện cần thiết để tổ chức dạy học. Nếu tăng số tiết đứng lớp thì cũng cần xem xét lại cách quy đổi thời gian dành cho các nhiệm vụ chuyên môn khác, bảo đảm phù hợp với khối lượng công việc thực tế”, thầy Khương chia sẻ.

Bên cạnh nhiệm vụ giảng dạy theo thời khóa biểu, giáo viên còn tham gia ôn tập cho học sinh lớp 12 chuẩn bị kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông, bồi dưỡng học sinh giỏi, hỗ trợ học sinh còn hạn chế về kiến thức và tổ chức các hoạt động giáo dục khác. Những công việc này đòi hỏi thời gian, công sức nhưng không phải nhiệm vụ nào cũng có thể quy đổi đầy đủ thành số tiết dạy.

Do đó, khi xây dựng định mức, cần tính đến cả đặc thù công việc và yêu cầu thực tế tại các nhà trường.

Đối với quan điểm cho rằng công nghệ có thể giúp giáo viên giảm tải công việc, thầy Khương nhận định việc ứng dụng những công cụ này cũng đặt ra yêu cầu học tập, cập nhật thường xuyên. Công nghệ liên tục thay đổi, buộc giáo viên phải dành thời gian tìm hiểu, làm chủ công cụ và lựa chọn cách ứng dụng phù hợp vào hoạt động dạy học.

Vì vậy, không thể mặc nhiên coi việc ứng dụng công nghệ là yếu tố giúp giảm đáng kể thời gian lao động của giáo viên.

Từ những phân tích trên, thầy Khương cho rằng cần chú trọng hiệu quả và chất lượng dạy học thay vì chỉ tập trung vào số lượng tiết đứng lớp. Theo thầy, nên cân nhắc duy trì định mức 17 tiết/tuần như hiện nay để giáo viên có thêm điều kiện đầu tư cho bài giảng, đổi mới phương pháp và hỗ trợ học sinh.

Trường hợp điều chỉnh định mức, Bộ Giáo dục và Đào tạo cần công bố rõ căn cứ, tiêu chí và phương pháp quy đổi thời gian lao động, bảo đảm quy định mới có tính thuyết phục và phù hợp với thực tiễn.

ĐÀO HIỀN