ĐBQH: Luật Nhà giáo đã có, thầy cô mong chính sách tiền lương sẽ sớm được thực hiện

31/10/2026 07:02
Mộc Hương

GDVN - ĐBQH cho rằng, cần quan tâm đồng bộ tới chính sách tiền lương, phụ cấp, nhà công vụ, điều kiện đi lại, sinh hoạt và cơ hội phát triển nghề nghiệp cho nhà giáo.

Tiếp tục chương trình Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XVI, chiều 30/10, dưới sự chủ trì của Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn và sự điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Hồng, Quốc hội thảo luận ở hội trường về tình hình thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, tình hình thực hiện ngân sách Nhà nước và kế hoạch đầu tư công.

Tại phiên thảo luận, nhiều đại biểu dành sự quan tâm cho lĩnh vực giáo dục và đào tạo.

Hoàn thiện phương án tổ chức và điều kiện vận hành với trường nội trú liên cấp đang triển khai giai đoạn 2

Phát biểu tại phiên thảo luận, Đại biểu Trần Thị Thu Phước (Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Quảng Ngãi) cơ bản tán thành với báo cáo của Chính phủ về kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2026. Đại biểu đánh giá cao những nỗ lực trong triển khai chính sách an sinh, chăm lo đội ngũ cán bộ cơ sở, đầu tư giáo dục vùng biên giới và thúc đẩy du lịch phục hồi, phát triển.

Quan tâm đến việc đầu tư giáo dục vùng biên giới, Đại biểu Trần Thị Thu Phước đánh giá cao chủ trương xây dựng trường nội trú liên cấp tại các xã biên giới. Theo đại biểu, đây là sự đầu tư có ý nghĩa lâu dài, giúp học sinh vùng khó khăn có điều kiện học tập, sinh hoạt tốt hơn, đồng thời góp phần củng cố đời sống xã hội và giữ vững địa bàn biên giới.

Tuy nhiên, quy mô đầu tư lớn cũng đặt ra yêu cầu sử dụng công trình hiệu quả. Đại biểu Trần Thị Thu Phước chỉ ra thực tế, ở nhiều xã biên giới, trường học mới có thể là nơi được đầu tư đồng bộ về điện, nước, nhà ăn, phòng y tế và cơ sở vật chất tương đối hoàn chỉnh, trong khi người dân xung quanh vẫn có thể thiếu không gian sinh hoạt văn hóa, điều kiện tiếp cận dịch vụ y tế và cơ hội học tập thường xuyên.

202610301520354915-1793348511180-6935599001901914730-g3194982797251543164-d17cb0f6ee17ce5fb28c1a0db8d3904a.jpg
Đại biểu Trần Thị Thu Phước (Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Quảng Ngãi). Ảnh: quochoi.vn.

“Nếu những công trình này chỉ hoạt động phục vụ học sinh trong giờ học, thì chúng ta chưa khai thác hết giá trị của nguồn lực đã đầu tư” - nữ đại biểu đề cập.

Vì vậy, Đại biểu Trần Thị Thu Phước đề nghị Chính phủ nghiên cứu cơ chế để các trường, tùy điều kiện thực tế và bảo đảm an toàn, có thể hỗ trợ thêm một số hoạt động phục vụ cộng đồng. Chẳng hạn, thư viện, sân thể thao có thể được sử dụng cho sinh hoạt văn hóa; nhà trường phối hợp tổ chức các lớp học tin học, kỹ năng thiết yếu cho người dân.

Bên cạnh đó, công an xã và đồn biên phòng có thể phối hợp với nhà trường tuyên truyền pháp luật, phòng, chống mua bán ma túy, mua bán người và nâng cao nhận thức về phòng, chống thiên tai.

Cũng quan tâm đến nội dung này, Đại biểu Lý Thị Lan (Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Tuyên Quang) đề cập đến hiệu quả hoạt động và phát triển, tiếp tục phát triển trường phổ thông nội trú tại các địa bàn khó khăn.

20261030111154477917933337051262162376588907177512g3194982797251543164d9fe18a5a06185c25bdcbd895e482bf1.jpg
Đại biểu Lý Thị Lan (Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Tuyên Quang). Ảnh: Media Quốc hội.

Cụ thể, nữ đại biểu phân tích: “Chủ trương của Bộ Chính trị về xây dựng trường phổ thông nội trú liên cấp tại các xã biên giới được đồng bào và nhân dân các dân tộc đón nhận với niềm vui và sự trân trọng, và với lòng biết ơn sâu sắc đối với Đảng và Nhà nước. Chỉ trong một thời gian ngắn, với sự chỉ đạo quyết liệt của Chính phủ, đã hoàn thành và đưa vào sử dụng 108 trường nội trú liên cấp đầu tiên trên cả nước đúng vào dịp khai giảng năm học 2026-2027. Đây là sự quan tâm rất là cụ thể của Đảng, Nhà nước đối với việc học tập và tương lai của con em đồng bào dân tộc thiểu số vùng biên giới.

Tuy nhiên, để phát huy hiệu quả lâu dài, điều kiện vận hành phải được chuẩn bị đồng bộ với tiến độ xây dựng. Thông báo số 523/TB-VPCP của Văn phòng Chính phủ đã chỉ ra những khó khăn về nhân lực quản sinh, tư vấn tâm lý, dinh dưỡng và giáo vụ. Trường nội trú liên cấp vừa dạy học, vừa nuôi dưỡng, chăm sóc và quản lý học sinh ngoài giờ ở nhiều lứa tuổi. Vì vậy, cần mô hình tổ chức, đội ngũ và kinh phí phù hợp với đặc thù này.

Tôi đề nghị Chính phủ sớm chỉ đạo đánh giá thực tiễn hoạt động của những trường đã được đưa vào sử dụng, nhất là về đội ngũ giáo viên, nhân viên, chất lượng học tập, sức khỏe, khả năng thích nghi và sĩ số của học sinh. Qua đó, kịp thời rút kinh nghiệm, hoàn thiện phương án tổ chức và điều kiện vận hành đối với các trường nội trú liên cấp đang triển khai giai đoạn 2, bảo đảm hoạt động ổn định ngay khi hoàn thành đưa vào sử dụng”.

Cùng với đó, theo Đại biểu Lý Thị Lan, cần tiếp tục nghiên cứu phát triển trường phổ thông nội trú tại các xã nội địa đặc biệt khó khăn. Có những địa bàn tuy không giáp biên giới nhưng địa hình chia cắt, dân cư phân tán, đường đến trường xa, nhu cầu học nội trú, bán trú rất lớn...

Nghị quyết số 71-NQ/TW đã đặt mục tiêu hoàn thành mạng lưới trường phổ thông nội trú tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng khó khăn và biên giới trước năm 2030.

Do đó, nữ đại biểu đề nghị giao Bộ Giáo dục và Đào tạo phối hợp địa phương khảo sát, lựa chọn xã nội địa thực sự có nhu cầu, xác định quy mô, lộ trình đầu tư phù hợp; việc mở rộng cần dựa trên kết quả đánh giá mô hình tại các xã biên giới, đồng thời tính toán đầy đủ chính sách đối với học sinh, đội ngũ giáo viên, nhân viên và kinh phí vận hành lâu dài...

Cần tăng cường cơ chế phối hợp giữa Bộ Giáo dục và Đào tạo với các bộ, ngành, địa phương

Cùng quan tâm đến lĩnh vực giáo dục, Đại biểu Quốc hội Nàng Xô Vi (Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Quảng Ngãi) cho biết: “Tôi cơ bản thống nhất với báo cáo của Chính phủ và báo cáo thẩm tra về tình hình thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2026 và dự kiến kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2027. Tôi xin trao đổi một số vấn đề liên quan tới lĩnh vực văn hóa và giáo dục, nhất là những vấn đề có tác động trực tiếp đến người dân ở vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới và vùng đồng bào dân tộc thiểu số”.

Nữ đại biểu đề cập: “Thực hiện đột phá phát triển giáo dục theo Nghị quyết số 71-NQ/TW của Bộ Chính trị, cần bắt đầu từ việc bảo đảm các điều kiện thực hiện, đặc biệt là đội ngũ giáo viên và cơ sở vật chất. Nghị quyết số 71 đã nhấn mạnh, yêu cầu đổi mới thể chế, phân cấp, phân quyền thì cần phải phân bổ nguồn lực, đồng thời đặt ra nhiệm vụ bảo đảm đủ số lượng, chất lượng và cơ cấu giáo viên và biên chế theo quy định. Hiện nay thực trạng thừa thiếu giáo viên vẫn đang diễn ra. Cả nước vẫn còn thiếu khoảng 48.249 giáo viên (nhu cầu bổ sung trong năm học 2026-2027). Bên cạnh đó, còn thiếu 45.691 phòng học, 27.084 phòng học bộ, thiết bị dạy học tối thiểu ở cấp trung học phổ thông mới đáp ứng khoảng 28,7%.

Tôi cho rằng, cần giải quyết những vấn đề một cách đồng bộ, không chỉ dừng lại ở tuyển dụng mà cần rà soát, điều tiết, điều động, luân chuyển giáo viên giữa các địa bàn, cơ sở giáo dục, thống kê chính xác nhu cầu theo từng cấp học, môn học và địa phương, để làm rõ cơ sở đề xuất bổ sung biên chế.

Đồng thời, cần rà soát, điều chỉnh định mức giáo viên và người làm việc trong trường học phù hợp với chương trình giáo dục phổ thông, loại hình trường, đặc điểm vùng miền và quy mô học sinh.

Bộ Giáo dục và Đào tạo với chức năng quản lý nhà nước về giáo dục có nhiệm vụ xây dựng chương trình, quy định tiêu chuẩn, chế độ làm việc, định mức giáo viên và chính sách đối với nhà giáo. Tuy nhiên, việc bố trí, quản lý biên chế và phân bổ kinh phí cho các cơ sở giáo dục địa phương còn liên quan đến thẩm quyền của các cơ quan quản lý về tổ chức bộ máy, tài chính và chính quyền địa phương.

Vì vậy, tôi đề nghị Chính phủ tăng cường cơ chế phối hợp giữa Bộ Giáo dục và Đào tạo với các bộ, ngành, địa phương, bảo đảm việc xác định nhu cầu chuyên môn gắn với bố trí nhân lực và nguồn lực tài chính để các chính sách giáo dục thực sự có điều kiện triển khai hiệu quả.

Đối với vùng khó khăn, vấn đề không chỉ là tuyển được giáo viên mà còn giữ được giáo viên có năng lực. Vì vậy, cần quan tâm đồng bộ tới chính sách tiền lương, phụ cấp, nhà công vụ, điều kiện đi lại, sinh hoạt và cơ hội phát triển nghề nghiệp. Đặc biệt, Luật Nhà giáo đã có hiệu lực, cần sớm triển khai đầy đủ, hiệu quả các chính sách đối với nhà giáo. Nhà giáo chúng tôi rất phấn khởi khi Luật Nhà giáo được thông qua, và cử tri tại cơ sở cũng rất mong muốn chính sách tiền lương sẽ sớm được thực hiện.

Tôi đề nghị chính, tôi đề nghị chuyển trọng tâm đánh giá chất lượng đội ngũ nhà giáo từ việc hoàn thành hồ sơ, chứng chỉ sang năng lực thực hành nghề nghiệp, với sự tiến bộ của người học”.

nang-xo-vi-quang-ngai.jpg
Đại biểu Quốc hội Nàng Xô Vi (Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Quảng Ngãi). Ảnh: nhandan.vn.

Bên cạnh đó, theo Đại biểu Nàng Xô Vi, việc đảm bảo công bằng trong giáo dục phải được đo bằng cơ hội học tập và chất lượng thực tế mà học sinh nhận được. Cùng một mục tiêu giáo dục, nhưng điều kiện thực hiện ở các vùng còn rất khác nhau, học sinh ở địa bàn khó khăn vẫn chịu nhiều hạn chế về khoảng cách địa lý, điều kiện kinh tế gia đình, hạ tầng số, thiếu giáo viên và cơ hội tiếp cận các hoạt động học tập.

“Tôi kiến nghị, việc phân bổ ngân sách giáo dục và các chương trình hỗ trợ cần dựa trên nhu cầu, mức độ khó khăn và kết quả đầu ra, ưu tiên các trường còn thiếu giáo viên, phòng học chức năng, thiết bị dạy học và điều kiện sinh hoạt cho học sinh nội trú, bán trú và vùng dân tộc thiểu số, miền núi, biên giới, hải đảo” - nữ đại biểu bày tỏ.

Đại biểu Nàng Xô Vi nhấn mạnh: “Văn hóa và giáo dục là nền tảng quan trọng cho sự phát triển bền vững của đất nước. Tôi mong muốn, các chủ trương chính sách khi ban hành cần đi đôi với nguồn lực và điều kiện thực hiện, đảm bảo người dân, đặc biệt là đồng bào dân tộc thiểu số được thụ hưởng những thành quả một cách triệt để và công bằng”.

Cử tri quan tâm đến chất lượng bữa ăn bán trú, bạo lực học đường, nội dung độc hại trên môi trường số

Góp ý tại phiên thảo luận, Đại biểu Nguyễn Văn Huy (Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Hưng Yên) cho hay: “Việc hoàn thiện thể chế, tháo gỡ tồn đọng, đầu tư hạ tầng, thúc đẩy khoa học công nghệ, chuyển đổi số và bảo đảm an sinh xã hội đã tạo nền tảng cho giai đoạn phát triển mới. Tôi đánh giá cao tinh thần chuyển từ tư duy quản lý sang kiến tạo phát triển, từ xây dựng chính sách sang tổ chức thực thi, lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm. Đây là hướng đi đúng, cần được thực hiện, thực hóa bằng những chuyển biến cụ thể trong đời sống.

Tuy nhiên, qua nắm bắt từ cơ sở, cử tri rất quan tâm đến một vấn đề, đó là chất lượng bữa ăn bán trú, vấn đề bạo lực học đường, thuốc lá điện tử và đặc biệt là tác động của nội dung độc hại trên môi trường mạng đối với trẻ em.

Chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo đã mở ra nhiều cơ hội cho tương lai đất nước, nhưng có một câu hỏi cần đặt ra: “Khi trẻ em bước vào thế giới số, chúng ta đã thực sự bảo vệ các em đến đâu?”.

Không thể phủ nhận lợi ích của môi trường mạng trong học tập, tiếp cận tri thức, phát triển ngoại ngữ, kỹ năng công nghệ và sáng tạo. Tuy nhiên, trẻ em đang bước vào môi trường này nhanh hơn với khả năng bảo vệ của gia đình, nhà trường, pháp luật và các nền tảng số.

Trong khi các em chưa đủ nhận thức, kỹ năng để nhận diện rủi ro thì nội dung độc hại, bắt nạt, dụ dỗ, xâm hại và thao túng tâm lý ngày càng tinh vi. Trách nhiệm giữa các chủ thể chưa rõ, kiểm soát độ tuổi, phát hiện, xử lý vi phạm còn hạn chế, gia đình, nhà trường khó bám sát toàn diện, còn các nền tảng số chưa phải lúc nào cũng đặt sự an toàn của trẻ em lên trên mục tiêu thu hút người dùng. Kẻ xấu có thể giả danh bạn bè, người nổi tiếng để tạo lòng tin, dụ dỗ trẻ cung cấp hình ảnh riêng tư rồi đe dọa, khống chế. Một bức ảnh bị chế giễu, một đoạn video bị phát tán trong nhóm lớp có thể nhanh chóng lan rộng, khiến trẻ bị cô lập, xúc phạm ngay cả khi đã rời nhà trường.

Nếu chỉ yêu cầu xóa bài viết, mà không ngăn chặn phát tán, hỗ trợ tâm lý và xử lý vi phạm thì vấn đề chưa thực sự được giải quyết. Đáng lo ngại hơn, hình ảnh trẻ có thể bị ghép vào nội dung nhạy cảm, giọng nói, hình ảnh người thân bị giả mạo để lừa đảo. Điều đáng sợ không chỉ là nội dung giả, mà còn là sự tổn thương, kỳ thị thật mà trẻ phải gánh chịu.

Chúng ta thường khuyên trẻ không kết bạn với người lạ, không chia sẻ thông tin cá nhân, khuyên cha mẹ giám sát con chặt chẽ, nhưng liệu trẻ có thể nhận diện đủ mọi thủ đoạn tinh vi, liệu cha mẹ có thể kiểm soát mọi nội dung mà thuật toán liên tục đề xuất?

Nếu nền tảng chưa ngăn chặn được người lạ tiếp cận trẻ, chưa xử lý kịp thời nội dung độc hại thì chỉ yêu cầu gia đình quản lý chặt hơn, tôi cho rằng còn chưa đủ. Không thể đòi hỏi trẻ tự bảo vệ mình trước những rủi ro mà ngay cả người trưởng thành cũng khó nhận diện.

Nhiều quốc gia đã thúc đẩy các biện pháp hạn chế trẻ em sử dụng mạng xã hội, nhưng theo tôi, vấn đề không còn là có nên cho trẻ em tiếp cận Internet hay không, mà là làm thế nào để các em được hưởng lợi từ công nghệ mà không phải đánh đổi bằng sự an toàn, sức khỏe tinh thần và quyền riêng tư”.

20261030163423030017933530110026935599001901914730g31949827972515431645dd35a7e1f5c360ab0f31ccd1bdfe362.jpg
Đại biểu Nguyễn Văn Huy (Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Hưng Yên). Ảnh: Media Quốc hội.

Vị đại biểu cũng chỉ ra: “Việc triển khai Quyết định số 468/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về Chương trình bảo vệ và hỗ trợ trẻ em trên môi trường mạng giai đoạn 2026-2030 đã tạo tiền đề để huy động sự tham gia của các bộ, ngành, địa phương, nhà trường, gia đình và doanh nghiệp công nghệ.

Tuy nhiên, cơ chế phối hợp, phân định trách nhiệm, bố trí nguồn lực và ràng buộc trách nhiệm của các nền tảng số vẫn cần được tăng cường”.

Do vậy, Đại biểu Nguyễn Văn Huy kiến nghị Quốc hội tiếp tục hoàn thiện pháp luật về trẻ em, an ninh mạng, bảo vệ dữ liệu cá nhân và trách nhiệm của nền tảng số; tăng cường giám sát thực hiện chương trình giai đoạn 2026-2030; làm rõ nghĩa vụ ngăn chặn, gỡ bỏ nội dung xâm hại, xử lý phản ánh và phối hợp với cơ quan chức năng.

Kiến nghị Chính phủ phân công rõ cơ quan chủ trì, bố trí nguồn lực, xác định thời hạn và kết quả thực hiện; quy trình phối hợp thống nhất từ tiếp nhận tin báo, xác minh, bảo vệ nạn nhân đến xử lý vi phạm, bảo đảm trẻ em và gia đình có đầu mối dễ tiếp cận và tìm kiếm trợ giúp.

Đề nghị các cơ quan chức năng và các địa phương tăng cường điều tra tội phạm mạng, phối hợp thực tế hỗ trợ nạn nhân, đẩy mạnh giáo dục kỹ năng số an toàn, phòng chống tai nạn trực tuyến và hỗ trợ tâm lý học đường. Không thể đòi hỏi trẻ tự bảo vệ mình trước những rủi ro mà ngay cả người trưởng thành cũng khó nhận diện, càng không thể để những chủ thể có khả năng kiểm soát công nghệ đứng ngoài trách nhiệm.

“Nội dung độc hại trên môi trường mạng có thể lan truyền trong vài giây, nhưng xử lý hậu quả có thể mất nhiều ngày, nhiều tháng, thậm chí để lại những tổn thương không thể xóa nhòa. Vì vậy, chúng ta không thể chỉ chạy theo khắc phục hậu quả, mà phải chủ động thiết lập cơ chế bảo vệ đủ mạnh ngay từ đầu, bởi công nghệ chỉ thực sự có ý nghĩa khi trẻ em không phải trả giá cho những rủi ro mà các em chưa đủ khả năng tự bảo vệ mình” - vị đại biểu nêu.

Mộc Hương