Sáng 31/10, tiếp tục chương trình Kỳ họp thứ 2, Quốc hội thảo luận về tình hình kinh tế - xã hội, ngân sách Nhà nước. Nhiều ý kiến quan tâm đến lĩnh vực giáo dục và đào tạo.
Đề nghị nghiên cứu đánh giá lại việc tổ chức kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông
Tham gia góp ý kiến liên quan đến lĩnh vực giáo dục, Đại biểu Quốc hội Trịnh Xuân An (đoàn Đồng Nai) cho rằng, giáo dục là sự nghiệp trồng người, do đó, chính sách cần phải có tầm nhìn dài hạn, được chuẩn bị bài bản, thực chất và nhất quán.
Theo đại biểu, những bất cập về thi cử, tuyển sinh, dạy thêm, học thêm, sắp xếp trường lớp đặt ra yêu cầu cần phải rà soát đồng bộ và nâng cao chất lượng đối với lĩnh vực giáo dục.
Đại biểu đề nghị nghiên cứu đánh giá lại việc tổ chức kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông hiện nay, làm rõ mục tiêu, sự cần thiết, hiệu quả trong mối quan hệ đánh giá với quá trình học tập, tuyển sinh đại học và phân luồng học sinh.
“Từ đó lựa chọn phương án thi cử bảo đảm thực chất, công bằng, giảm áp lực, chi phí cho gia đình và xã hội” - Đại biểu Trịnh Xuân An cho hay.
Nhấn mạnh mỗi thay đổi trong giáo dục đều tác động đến hàng triệu học sinh, giáo viên và gia đình. Vì vậy, đại biểu cho rằng cần phải đánh giá tác động đầy đủ, lắng nghe ý kiến thực chất, công bố đủ sớm và đủ lộ trình.
“Không để mỗi mùa thi đến học sinh, phụ huynh lại thấp thỏm chờ quy định mới của Bộ; nhà trường, giáo viên bị động trong điều chỉnh và dạy học. Đổi mới phải giúp học sinh học thực chất, giáo viên yên tâm dạy học, gia đình tin tưởng vào nhà trường” - Đại biểu Trịnh Xuân An nói.
Cùng với trang bị tri thức hiện đại, ngoại ngữ và kỹ năng, đại biểu cho rằng, cần coi trọng giáo dục lịch sử, truyền thống, lòng yêu nước và trách nhiệm công dân bằng phương pháp sinh động gắn với các trải nghiệm thực tế.
Cần cơ cấu hợp lý tỉ lệ bằng cấp, chứng chỉ trong tổng khối lao động
Cũng quan tâm đến lĩnh vực giáo dục, Đại biểu Quốc hội Nguyễn Thị Thu Dung (đoàn Hà Nội) có ý kiến về chỉ tiêu tỉ lệ lao động qua đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ dự kiến năm 2027.
Theo nữ đại biểu, tốc độ tăng năng suất lao động và tỉ lệ lao động qua đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ có mối quan hệ chặt chẽ. Trong đó, chất lượng nguồn nhân lực là một trong những động lực chính thúc đẩy tăng năng suất lao động.
Tuy nhiên, trong bối cảnh hiện nay, chỉ 30% cần điều chỉnh để phù hợp hơn với mức tăng năng suất lao động là 8,6%. Năng suất lao động phản ánh hiệu quả sử dụng lao động trong quá trình sản xuất, được xác định bằng giá trị GDP chia cho tổng số lao động. Trong khi đó, tỉ lệ lao động qua đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ là chỉ báo về chất lượng nguồn nhân lực, yếu tố then chốt quyết định khả năng tiếp cận công nghệ, đổi mới sáng tạo và nâng cao hiệu quả sản xuất.
Tốc độ tăng năng suất lao động của Việt Nam giai đoạn 2016-2020 chỉ đạt bình quân 6,05%, khi tỉ lệ lao động có bằng cấp dao động ở mức 21% đến 24%. Đến giai đoạn 2021-2025, dù tỉ lệ này đã tiệm cận mức 29,5%, nhưng tốc độ tăng năng suất lao động vẫn chỉ duy trì quanh ngưỡng dưới 6%.
Với tỉ lệ lao động có bằng cấp, chứng chỉ khoảng 30%, việc đạt mức tăng năng suất 8,6% là khó khả thi, nếu không có các yếu tố đột phá khác như đầu tư công nghệ, chuyển dịch cơ cấu kinh tế mạnh mẽ hoặc bùng nổ năng suất trong khu vực doanh nghiệp FDI.
Kinh nghiệm từ các quốc gia trong khu vực ASEAN cho thấy, khi đặt mục tiêu bứt phá tốc độ tăng năng suất lao động ở mức 8,6%, thì tỉ lệ lao động có bằng cấp, chứng chỉ phải đạt tối thiểu từ 35% đến 40%. Các quốc gia có năng suất lao động cao như Singapore, Hàn Quốc, Nhật Bản đều có tỉ lệ lao động qua đào tạo có bằng cấp trên 60%-70%.
Tuy nhiên, nếu chỉ tăng thuần túy mặt số lượng bằng cấp là chưa đủ, mà cần phải đi cùng với dịch chuyển cơ cấu ngành sản xuất mạnh mẽ, giảm tỉ trọng các ngành nông nghiệp thâm dụng lao động và dịch vụ giá trị thấp, tập trung dòng vốn vào khối công nghiệp chế biến, chế tạo mũi nhọn.
Các ngành công nghiệp công nghệ cao này yêu cầu tỉ lệ lao động có bằng cấp theo ngành tối thiểu phải đạt 50%-60%. Do đó, tỉ lệ văn bằng bình quân toàn quốc đạt 35%-40% chính là mật độ giới hạn để nền kinh tế hấp thu hiệu quả các dòng vốn FDI chiến lược cao, trực tiếp thúc đẩy năng suất lao động tổng thể tăng vọt.
Nhiều năm qua, tốc độ tăng lao động có bằng đại học ở Việt Nam nhanh hơn rất nhiều so với tốc độ tăng lao động có bằng cao đẳng, trung cấp. Điều này tạo ra sự lệch pha cung - cầu. Khối ngành công nghiệp chế biến, chế tạo cần lực lượng kỹ thuật viên lành nghề, nhưng thị trường lại dư thừa cử nhân các ngành kinh tế lý thuyết.
Năng suất lao động Việt Nam vẫn ở mức thấp so với khu vực, chỉ bằng chưa đến 60% so với Thái Lan và Malaysia, và chưa đến 20% so với Singapore. Để đạt được mục tiêu tăng trưởng kinh tế tối thiểu 10% năm 2027 và tăng trưởng hai con số những năm tiếp theo, Việt Nam cần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực một cách đồng bộ.
Theo đó, Đại biểu Nguyễn Thị Thu Dung kiến nghị Chính phủ một số nội dung sau:
Thứ nhất, nâng dần mục tiêu tỉ lệ lao động qua đào tạo có bằng cấp, ít nhất là 35% vào năm 2027 và đạt tối thiểu 45% vào năm 2030; đặc biệt tập trung vào các ngành công nghệ cao, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo...
Thứ hai, cơ cấu hợp lý tỉ lệ bằng cấp, chứng chỉ trong tổng khối lao động; phải chuyển dịch mô hình đào tạo từ nâng cao học vấn sang nâng cao tay nghề kỹ thuật. Trong tổng thể khối lao động có bằng cấp, tỉ trọng văn bằng bậc đại học trở lên cần được kiểm soát và duy trì ổn định ở mức tối đa xấp xỉ 30%, nhưng bắt buộc phải dịch chuyển trọng tâm từ các khối ngành kinh tế sang các khối ngành STEM để đảm bảo năng lực nghiên cứu, đổi mới quy trình và thúc đẩy năng suất nhân tố tổng hợp.
Ngược lại, lực lượng trực tiếp vận hành nền sản xuất là bậc cao đẳng và trung cấp kỹ thuật phải được đẩy mạnh để chiếm tỉ trọng lớn nhất (tối thiểu là 45%). Đây là nhóm lao động cốt lõi, đóng góp trực tiếp vào hiệu suất kỹ thuật trên các dây chuyền nhà máy, giúp giảm tỉ lệ sản phẩm lỗi và tối ưu thời gian vận hành.
Khoảng 25% còn lại sẽ dành cho hệ thống chứng chỉ nghề ngắn hạn và chuẩn hóa năng lực quốc gia, để tập trung chuẩn hóa kỹ năng nghề cho lao động dịch chuyển từ nông nghiệp sang công nghiệp.
Thứ ba, giảm tình trạng lao động có bằng cấp nhưng không đáp ứng được yêu cầu công việc; chuyển mạnh từ đào tạo theo bằng cấp sang đào tạo theo nghề nghiệp, gắn kết chặt chẽ giữa nhà trường và doanh nghiệp. Chú trọng đào tạo kỹ năng mềm, ngoại ngữ, tư duy phản biện và khả năng thích nghi với công nghệ - những yếu tố ngày càng quan trọng trong nền kinh tế số. Thực hiện chuẩn hóa và cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia.
Thứ tư, có cơ chế khuyến khích doanh nghiệp tập trung đầu tư vào đào tạo nội bộ, coi đây là một phần của chiến lược nâng cao năng suất và lợi thế cạnh tranh.
Đề nghị bổ sung điều khoản riêng về “Tài sản công phục vụ hoạt động sự nghiệp công lập trong lĩnh vực giáo dục và y tế”
Phát biểu tại phiên họp, Đại biểu Quốc hội Châu Quỳnh Dao (đoàn An Giang) đề cập: “Có một câu hỏi nhiều năm qua chúng ta giải quyết chưa thoả đáng: “Tại sao khi bước vào cổng trường, con em chúng ta mua một đĩa cơm, chai nước lại đắt hơn bên ngoài?”. Cổng trường khép kín vì an toàn, nhưng vô tình biến căng-tin thành một “thị trường độc quyền ép buộc” - nơi các cháu không có sự lựa chọn: hoặc chấp nhận mua đắt, hoặc chịu đói. Căn nguyên của vấn đề này là do quy định đấu giá tài sản công theo nguyên tắc “trả giá lên”.
Vừa qua, Chính phủ có chủ trương miễn, giảm thuế cho đơn vị cung ứng dịch vụ ăn uống học đường, bệnh viện,… cử tri rất phấn khởi. Nhưng chúng ta mới gỡ phần ngọn. Trong một suất ăn 35.000 đồng, tiền thuế chỉ chiếm 5-8% (khoảng 2.000 đồng), nhưng tiền thuê mặt bằng chiếm tới 30-40% (từ 10.000 đến 14.000 đồng)”.
Theo nữ đại biểu, thực trạng này xuất phát từ hai “điểm nghẽn” pháp lý:
Một là, sự “cào bằng” khi xem căn tin trường học hay bệnh viện giống như mặt bằng thương mại ngoài thị trường. Luật Quản lý, sử dụng tài sản công làm rất tốt vai trò chống thất thoát ngân sách, nhưng lại tạo ra sự “lệch pha” nghiêm trọng khi áp nguyên vẹn vào môi trường sư phạm, bệnh viện - nơi mục tiêu phục vụ, bảo vệ người học, người bệnh là nguyên tắc tối thượng.
Hai là, sự xung đột giữa Luật Quản lý, sử dụng tài sản công và Luật Đấu thầu. Điều 5 và Điều 57 Luật Đấu thầu năm 2023 cho phép chỉ định thầu, đặt hàng cung cấp dịch vụ công nhưng các trường không thể đấu thầu để chọn nhà cung ứng “Ngon nhất - Bổ nhất - Rẻ nhất” vì Luật Quản lý, sử dụng tài sản công không cho phép khi đơn vị không thể đứng ra tự tổ chức, vận hành. Đành phải đấu giá mặt bằng.
Đáng lo ngại hơn, thầy thuốc, thầy giáo chuyên môn nặng nề không thể gánh trên vai áp lực pháp lý nặng nề từ thủ tục thẩm định giá và rủi ro đấu giá vốn dĩ họ không phải là chuyên gia tài chính, kinh tế, đấu giá viên.
Đại biểu Châu Quỳnh Dao cũng chia sẻ: Nhìn ra thế giới, Singapore giao mặt bằng căn tin với giá tượng trưng chỉ vài chục USD để đổi lại quyền khống chế “trần” giá bữa ăn rẻ hơn ngoài thị trường 30-40%. Nhật Bản, Hàn Quốc có hẳn Luật Bữa trưa học đường, Nhà nước bảo đảm 100% cơ sở vật chất, cha mẹ chỉ đóng tiền nguyên liệu; họ coi căn tin là “lớp học thứ hai” để bồi dưỡng thể chất và nhân cách giống nòi.
Đại biểu kiến nghị:
Thứ nhất, về giải pháp trước mắt: Đề nghị Chính phủ sớm sửa đổi, bổ sung Nghị định hướng dẫn Luật Quản lý, sử dụng tài sản công: Cho phép áp dụng cơ chế đặc thù đối với tài sản phục vụ an sinh, phụ trợ nội bộ trong trường học, bệnh viện,… Chuyển từ hình thức “đấu giá thuê mặt bằng trả giá lên” sang “thu cố định chi phí hao mòn tối thiểu và đấu thầu lựa chọn đơn vị cung cấp đạt tiêu chuẩn dịch vụ nhất.
Thứ hai, về giải pháp căn cơ: Trong chương trình sửa đổi Luật Quản lý, sử dụng tài sản công, đề nghị Quốc hội bổ sung một điều khoản riêng về “Tài sản công phục vụ hoạt động sự nghiệp công lập trong lĩnh vực giáo dục và y tế”, tách bạch triệt để khỏi nhóm tài sản kinh doanh, cho thuê thương mại; bổ sung các quy định chi tiết về cơ chế quản lý, lựa chọn nhà cung cấp và tiêu chuẩn chất lượng dịch vụ.
Thứ ba, về giám sát: Thiết lập, thực hiện tốt cơ chế kiểm soát ba bên chặt chẽ: Nhà trường - Ban đại diện cha mẹ học sinh - Chính quyền địa phương với phương châm Phòng ngừa tiêu cực là chính, lấy sức khỏe và quyền lợi của người học làm thước đo duy nhất, tuyệt đối không biến nguồn thu phụ trợ học đường… thành công cụ bù đắp áp lực tự chủ tài chính”.