Rà soát "siêu trường" nếu có bất cập lớn nên mạnh dạn tổ chức lại

03/11/2026 06:45
Mộc Trà

GDVN - Theo Tiến sĩ Lê Thị Ngọc Thúy - Trưởng khoa Quản lý (Học viện Quản lý Giáo dục), khó khăn lớn nhất đối với các “siêu trường” là độ phức tạp của công việc có thể vượt quá năng lực điều hành.

Theo văn bản số 523/TB-VPCP ngày 13/10/2026 thông báo Kết luận của Phó Thủ tướng Chính phủ tại cuộc họp về tiến độ sắp xếp các cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông; tình hình, tiến độ triển khai xây dựng và vận hành các trường phổ thông nội trú liên cấp tại các xã biên giới: Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố chịu trách nhiệm trực tiếp về kết quả sắp xếp và vận hành các cơ sở giáo dục trên địa bàn; trong đó rà soát toàn bộ cơ sở giáo dục quy mô lớn, nhiều cấp học, nhiều phân hiệu, nhiều điểm trường, địa bàn rộng, nhất là đối với 114 cơ sở có trên 100 lớp; kịp thời điều chỉnh phù hợp đối với những cơ sở vượt khả năng quản trị, ảnh hưởng đến chất lượng, an toàn hoặc quyền học tập của học sinh; hoàn thành trong tháng 10 năm 2026.

Theo các chuyên gia, việc này là cần thiết để tránh việc trường học quy mô quá lớn, quản trị có thể quá tải, nguy cơ ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục.

Mục tiêu phải là nâng cao chất lượng giáo dục

Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, bà Trần Thị Lệ Thu - nguyên Ủy viên Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng (khóa IX), nay là Ủy ban Văn hoá và Xã hội của Quốc hội phân tích: “Quy mô trường lớp là vấn đề đã được ngành giáo dục quan tâm, nghiên cứu và xác định từ lâu. Thực tế, vừa qua, nhiều địa phương sáp nhập “cơ học” dẫn đến những cơ sở giáo dục có quy mô quá lớn, cả trăm lớp, gần chục nghìn học sinh, nhiều phân hiệu nằm cách xa nhau, theo tôi, là điều bất hợp lý và tiềm ẩn nhiều hệ lụy.

Trước hết, là khó khăn trong quản trị. Một hiệu trưởng phải quản lý một số lượng học sinh quá lớn, đồng thời phụ trách nhiều phân hiệu ở những địa bàn khác nhau, sẽ rất khó trực tiếp nắm bắt tình hình, kiểm tra hoạt động chuyên môn và xử lý kịp thời những vấn đề phát sinh. Khoảng cách địa lý càng lớn, việc điều hành càng dễ bị phân tán, thiếu đồng bộ; trách nhiệm quản lý cũng có thể bị chia sẻ, chồng chéo.

Mục tiêu cuối cùng của việc sắp xếp trường lớp phải là nâng cao chất lượng giáo dục, chứ không phải chỉ giảm đầu mối quản lý”.

Bàn về vấn đề này, ông Nguyễn Thanh Hiền - nguyên Phó Trưởng đoàn, Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Nghệ An, Chủ tịch Hội Khuyến học tỉnh Nghệ An đánh giá, đối với những “siêu trường” với quy mô hơn 100 lớp và gần 10.000 học sinh, các phân hiệu ở cách xa nhau…, có thể sẽ đối diện với một số khó khăn, áp lực đặc thù trong công tác quản lý, vận hành.

Trước hết, quản lý nhân sự và điều hành bộ máy cồng kềnh: Áp lực quá tải lên ban giám hiệu, đặc biệt là hiệu trưởng khi phải gánh khối lượng lớn các công việc, từ phê duyệt hành chính, chuyên môn đến giải quyết các sự cố phát sinh mỗi ngày. Khi các phân hiệu nằm ở các địa điểm cách xa nhau, việc truyền đạt, chỉ đạo từ ban giám hiệu đến giáo viên, nhân viên sẽ được thực hiện chủ yếu qua kênh online, thay vì thường xuyên trao đổi trực tiếp, đôi khi có thể gây chậm trễ hoặc rơi vào tình trạng “tam sao thất bản”.

Đối với việc đánh giá và quản lý giáo viên, với số lượng giáo viên lên tới hàng trăm người, việc kiểm tra năng lực thực tế, dự giờ, đánh giá thi đua một cách công bằng, sát sao và hiệu quả là vô cùng khó khăn.

Thứ hai, đảm bảo an ninh, an toàn và chăm sóc học sinh: Công tác bán trú và y tế học đường đối với các trường có quy mô lớn lên đến gần 10.000 học sinh, sẽ đòi hỏi lãnh đạo nhà trường phải luôn sát sao ở cùng lúc nhiều cơ sở, chỉ một sơ suất nhỏ cũng có thể dẫn đến hậu quả diện rộng.

Ngoài ra, việc xử lý sự cố tâm lý - học đường, hiệu trưởng rất khó nắm bắt kịp thời các mâu thuẫn, bạo lực học đường hay vấn đề tâm lý của học sinh khi không gian quá rộng và số lượng học sinh quá đông.

nguyen-thanh-hien-6540.jpg
Ông Nguyễn Thanh Hiền - nguyên Phó Trưởng đoàn, Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Nghệ An, Chủ tịch Hội Khuyến học tỉnh Nghệ An. Ảnh: NVCC.

Theo Tiến sĩ Lê Thị Ngọc Thúy - Trưởng khoa Quản lý (Học viện Quản lý Giáo dục), khó khăn lớn nhất đối với các “siêu trường” là độ phức tạp của công việc có thể vượt quá năng lực điều hành. Khi có nhiều học sinh, nhiều điểm trường nhưng cơ chế quản lý chưa được thiết kế lại, thông tin dễ chậm, trách nhiệm dễ chồng chéo và hiệu trưởng khó giám sát đầy đủ hoạt động tại từng nơi.

Áp lực còn thể hiện ở việc bảo đảm chất lượng giữa các điểm trường, bố trí đội ngũ, quản lý tài sản, dữ liệu và an toàn học sinh. Sau sáp nhập, khác biệt về cách làm và văn hóa của các đơn vị cũ cũng cần được giải quyết. Nếu thiếu phối hợp, nhà trường có thể thống nhất về tổ chức nhưng chưa tạo được sự gắn kết trong hoạt động.

Theo đó, Tiến sĩ Lê Thị Ngọc Thúy gợi mở, giải pháp là phân định rõ thẩm quyền, trách nhiệm và đầu mối phụ trách tại từng điểm trường; bố trí nhân sự hỗ trợ tương xứng với khối lượng công việc; sử dụng dữ liệu để phát hiện sớm bất cập. Công nghệ cần đi cùng năng lực con người và cơ chế kiểm tra. Nếu vẫn vượt khả năng quản trị, thì phải xem xét điều chỉnh quy mô, mô hình tổ chức.

Thành công phải thể hiện ở chất lượng phục vụ người học và khả năng vận hành bền vững của nhà trường

Từ những khó khăn trên, ông Nguyễn Thanh Hiền cho rằng, khi thực hiện rà soát, sắp xếp mạng lưới trường lớp, các địa phương cần nghiên cứu thật kỹ lưỡng, đánh giá toàn diện cả thuận lợi và khó khăn khi triển khai thực hiện. Đồng thời, cần xây dựng chuẩn về quy mô thay vì triển khai sắp xếp “cơ học”, rồi đến khi không vận hành tốt, lại điều chỉnh. Đặc biệt, Bộ Giáo dục và Đào tạo phải là cơ quan chủ trì.

Trao đổi về công tác sắp xếp mạng lưới trường lớp, ông Nguyễn Thanh Hiền nhấn mạnh yêu cầu cấp thiết về tầm nhìn chiến lược và sự thận trọng từ “gốc”.

Cụ thể: Khi rà soát và sắp xếp lại mạng lưới trường lớp, các địa phương tuyệt đối không thể áp dụng tư duy “cơ học” hay chạy theo số lượng, mà bắt buộc phải khảo sát thấu đáo, đánh giá đa chiều trên cơ sở thực tiễn và điều kiện thực tế từng vùng miền.

Việc thiếu các tiêu chuẩn định lượng đồng bộ về quy mô trường, lớp (từ diện tích, cơ sở vật chất đến sĩ số học sinh) dễ dẫn đến vòng luẩn quẩn “sắp xếp vội vã, vướng mắc khi vận hành rồi mới loay hoay điều chỉnh”, gây lãng phí nguồn lực công và xáo trộn tâm lý xã hội.

Do đó, để khắc phục tình trạng trên, cần xây dựng những tiêu chí, tiêu chuẩn cụ thể để thực hiện sáp nhập mang tính khoa học, bài bản. Đặc biệt, để tránh trường hợp mỗi địa phương áp dụng một hướng như hiện nay, Bộ Giáo dục và Đào tạo cần phát huy vai trò “nhạc trưởng”, đóng vai trò cơ quan chủ trì thiết kế khung chuẩn, để các tỉnh thành bám vào đó và thực hiện, đảm bảo sự đồng bộ, khoa học, bền vững cho hệ thống giáo dục phổ thông.

Từ đó, các địa phương khi thực hiện sắp xếp mạng lưới, sẽ phải tính toán, cân nhắc kỹ lưỡng và hoàn toàn chịu trách nhiệm với các phương án đã triển khai.

Ngoài ra, Chủ tịch Hội Khuyến học tỉnh Nghệ An cũng đề cập: Để tháo gỡ tình trạng khó khăn trong công tác quản trị đối với những cơ sở giáo dục có quy mô lên đến 100 trường, cần đẩy mạnh chuyển đổi số toàn diện, có thể ứng dụng các phần mềm quản lý trường học thông minh, điểm danh tự động, số hóa học bạ, sổ liên lạc điện tử và hệ thống camera AI an ninh… Bên cạnh đó, phân quyền mạnh mẽ, trao quyền tự chủ nhiều hơn cho các phân hiệu nhưng vẫn duy trì hệ thống kiểm tra, giám sát chặt chẽ từ trung tâm”.

Đồng tình với quan điểm trên, bà Trần Thị Lệ Thu bày tỏ: “Chỉ đạo của Phó Thủ tướng Lê Tiến Châu là cần thiết, nhằm kịp thời rà soát, khắc phục những bất cập trong việc sắp xếp trường lớp tại các địa phương.

Tôi đồng tình với quan điểm Bộ Giáo dục và Đào tạo phải giữ vai trò chủ trì về chuyên môn. Đây là cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục, có trách nhiệm xây dựng định hướng, tiêu chí và những nguyên tắc cơ bản về quy mô trường lớp, điều kiện tổ chức dạy học, đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên và các yêu cầu bảo đảm chất lượng giáo dục.

Tiến sĩ Lê Thị Ngọc Thúy cũng cho rằng, cần có khung tiêu chí xác định quy mô trường học phù hợp, gắn với năng lực quản trị và điều kiện thực tế của từng địa phương. Việc sắp xếp phải được đánh giá bằng chất lượng giáo dục, mức độ an toàn và khả năng tiếp cận của học sinh. Giảm đầu mối chỉ có ý nghĩa khi nhà trường vận hành hiệu quả hơn.

Quy mô phù hợp cần được xem xét đồng thời qua số học sinh, số lớp, số điểm trường, khoảng cách địa lý, đội ngũ và khả năng tổ chức các dịch vụ hỗ trợ. Cùng một số lượng học sinh nhưng trường tập trung và trường có nhiều điểm phân tán sẽ đặt ra yêu cầu quản trị khác nhau. Vì vậy, cần có tiêu chí chung và cách vận dụng phù hợp từng cấp học, địa bàn.

pgs-thuy.jpg
Tiến sĩ Lê Thị Ngọc Thúy (ở giữa) - Trưởng khoa Quản lý (Học viện Quản lý Giáo dục). Ảnh: NVCC.

Tiến sĩ Lê Thị Ngọc Thúy chia sẻ thêm: “Sau sắp xếp, cần theo dõi chất lượng, an toàn, khả năng đến trường, sự ổn định đội ngũ và hiệu quả sử dụng nguồn lực tại từng điểm trường. Có thể tổ chức đánh giá sau 3 tháng, 6 tháng để kịp thời điều chỉnh. Thành công phải thể hiện ở chất lượng phục vụ người học và khả năng vận hành bền vững của nhà trường”.

Cần rà soát từng trường hợp, nếu bất cập lớn cần mạnh dạn tổ chức lại

Về giải pháp trước mắt, theo bà Trần Thị Lệ Thu, cần rà soát từng trường hợp cụ thể. Đối với những trường đã sáp nhập nhưng đang bộc lộ bất cập lớn, cần mạnh dạn tổ chức lại phù hợp.

“Theo tôi, đầu tư cho giáo dục không chỉ là đầu tư vào cơ sở vật chất, mà trước hết phải là đầu tư cho con người, cho điều kiện dạy và học. Tinh gọn tổ chức phải đi đôi với nâng cao hiệu quả, chứ không thể lấy việc giảm số lượng làm thước đo thành công” - bà nhấn mạnh.

2.png
Bà Trần Thị Lệ Thu - nguyên Ủy viên Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng (khóa IX), nay là Ủy ban Văn hoá và Xã hội của Quốc hội. Ảnh: NVCC.

Theo bà Trần Thị Lệ Thu, việc sắp xếp mạng lưới trường lớp cần tuân thủ một số nguyên tắc cơ bản sau đây:

Thứ nhất, phải lấy học sinh làm trung tâm, lấy chất lượng giáo dục và quyền lợi của người học làm mục tiêu cao nhất. Mọi phương án sắp xếp đều phải trả lời được câu hỏi: học sinh có được học tập trong điều kiện tốt hơn không, việc đi lại có thuận lợi và an toàn hơn không, chất lượng dạy học có được bảo đảm không?

Thứ hai, phải căn cứ vào đặc điểm dân cư và điều kiện thực tế của từng địa bàn. Trường học cần được bố trí hợp lý theo khu dân cư, phù hợp với địa hình, giao thông, mật độ dân số và nhu cầu học tập. Đặc biệt, đối với các trường tiểu học và trung học cơ sở, cần hạn chế tối đa việc xáo trộn khiến học sinh phải di chuyển xa, nhất là ở vùng nông thôn, miền núi, vùng thường xuyên chịu ảnh hưởng của thiên tai.

Thứ ba, phải bảo đảm quy mô trường lớp phù hợp với năng lực quản trị và điều kiện tổ chức dạy học. Không nên chạy theo quy mô lớn, sáp nhập nhiều trường thành một cơ sở giáo dục quá sức quản lý. Cần tính toán đồng bộ số lượng học sinh, số lớp, đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý, cơ sở vật chất và khoảng cách giữa các điểm trường. Một trường học có quy mô vừa phải, hoạt động ổn định, có đội ngũ quản lý đủ năng lực và giáo viên được quan tâm đầy đủ sẽ tạo điều kiện tốt hơn cho việc nâng cao chất lượng giáo dục.

Thứ tư, việc lựa chọn và bố trí cán bộ quản lý phải công khai, minh bạch, công bằng, dựa trên năng lực và phẩm chất. Hiệu trưởng không chỉ cần có trình độ chuyên môn, mà còn phải có năng lực quản trị, khả năng tổ chức, điều hành và tinh thần trách nhiệm. Không nên xem việc giảm số lượng hiệu trưởng là một chỉ tiêu bắt buộc trong quá trình sắp xếp.

Thứ năm, phải có sự tham khảo ý kiến của đội ngũ nhà giáo, phụ huynh và cộng đồng dân cư. Đây là những người trực tiếp chịu tác động của việc sắp xếp, hiểu rõ điều kiện học tập, đi lại và sinh hoạt của học sinh. Việc lắng nghe ý kiến của họ sẽ giúp các quyết định sát thực tế hơn, hạn chế những bất cập có thể phát sinh.

Về trách nhiệm của địa phương, bà Thu cho rằng chính quyền các cấp phải chịu trách nhiệm trực tiếp về tính hợp lý và hiệu quả của phương án sắp xếp trên địa bàn.

Trước khi quyết định, cần phối hợp chặt chẽ với cơ quan chuyên môn về giáo dục, khảo sát thực tế, đánh giá đầy đủ tác động và công khai phương án để người dân biết, tham gia ý kiến.

Sau khi thực hiện, địa phương phải thường xuyên kiểm tra, giám sát, kịp thời phát hiện và điều chỉnh những bất cập; không thể xem việc ban hành quyết định sáp nhập là đã hoàn thành trách nhiệm.

Nếu phương án gây ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục, an toàn hoặc quyền lợi chính đáng của học sinh, thì phải có trách nhiệm khắc phục.

Mộc Trà