Năm 2025 là một năm có nhiều biến chuyển pháp luật và chính sách ảnh hưởng trực tiếp tới hoạt động dạy học và đời sống nghề nghiệp của giáo viên.
Xin được tổng hợp những chính sách giáo dục có hiệu lực năm 2025 và những chính sách được ban hành trong năm 2025 có hiệu lực năm 2026 được đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên bậc học mầm non, phổ thông quan tâm.
Thứ nhất, Nghị quyết 71 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo
Nghị quyết số 71-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo là văn kiện quan trọng mang tính định hướng cho giáo dục và đào tạo trong thời gian tới.
Nghị quyết đưa ra mục tiêu đến năm 2030: Mở rộng tiếp cận công bằng, nâng cao chất lượng giáo dục mầm non và phổ thông đạt trình độ tiên tiến trong khu vực châu Á. Xây dựng mạng lưới trường lớp cơ bản đáp ứng nhu cầu học tập của học sinh thuộc mọi đối tượng, vùng miền; có ít nhất 80% trường phổ thông đạt chuẩn quốc gia. Hoàn thành phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em từ 3 đến 5 tuổi và giáo dục bắt buộc hết trung học cơ sở; ít nhất 85% người trong độ tuổi hoàn thành cấp trung học phổ thông và tương đương, không có tỉnh, thành phố đạt dưới 60%. Đạt kết quả bước đầu về nâng cao năng lực công nghệ, trí tuệ nhân tạo và năng lực tiếng Anh ở bậc phổ thông. Chỉ số giáo dục đóng góp vào chỉ số phát triển con người (HDI) đạt trên 0,8, trong đó chỉ số bất bình đẳng giáo dục giảm xuống dưới 10%.
Xây dựng, đào tạo nguồn nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu Việt Nam trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao. Mạng lưới cơ sở giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp được sắp xếp phù hợp và đầu tư nâng cấp; phấn đấu 100% cơ sở giáo dục đại học và ít nhất 80% cơ sở giáo dục nghề nghiệp đạt chuẩn quốc gia, 20% cơ sở được đầu tư hiện đại tương đương các nước phát triển ở châu Á. Tỉ lệ người trong độ tuổi theo học các trình độ sau trung học phổ thông đạt 50%. Tỉ lệ người lao động có trình độ cao đẳng, đại học trở lên đạt 24%. Tỉ lệ người học các ngành khoa học cơ bản, kỹ thuật và công nghệ đạt ít nhất 35%, trong đó có ít nhất 6.000 nghiên cứu sinh, 20.000 người học các chương trình tài năng. Chỉ số vốn con người và nghiên cứu đóng góp vào chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII) ngang bằng các nước có thu nhập trung bình cao.
-Nâng tầm các cơ sở giáo dục đại học thực sự trở thành các trung tâm nghiên cứu, đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp của quốc gia và của các vùng. Mạng lưới cơ sở giáo dục đại học đóng vai trò nòng cốt trong hệ sinh thái đổi mới sáng tạo của các vùng và địa phương, cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao, nhân tài đáp ứng yêu cầu các ngành, lĩnh vực trọng điểm; tuyển dụng ít nhất 2.000 giảng viên giỏi từ nước ngoài. Tăng bình quân 12%/năm đối với số công bố khoa học quốc tế, nguồn thu từ khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo; 16%/năm đối với số đăng ký sáng chế, văn bằng bảo hộ sáng chế. Phấn đấu ít nhất 8 cơ sở giáo dục đại học thuộc nhóm 200 đại học hàng đầu châu Á, ít nhất 1 cơ sở giáo dục đại học thuộc nhóm 100 đại học hàng đầu thế giới trong một số lĩnh vực theo các bảng xếp hạng quốc tế uy tín.
Một nội dung trong Nghị quyết 71 được nhiều giáo viên phổ thông quan tâm là: "Có chính sách ưu đãi đặc thù, vượt trội cho đội ngũ nhà giáo; nâng phụ cấp ưu đãi nghề đối với cơ sở giáo dục mầm non và phổ thông lên tối thiểu 70% cho giáo viên, tối thiểu 30% cho nhân viên, 100% cho giáo viên ở khu vực đặc biệt khó khăn, biên giới, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số".
Thứ hai, Nghị quyết của Quốc hội về một số cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội để thực hiện đột phá phát triển giáo dục và đào tạo
Sáng 10/12, tại Kỳ họp thứ 10, với 419/431 đại biểu tham gia biểu quyết tán thành, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết của Quốc hội về một số cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội để thực hiện đột phá phát triển giáo dục và đào tạo.
Trong đó có một số nội dung được đông đảo giáo viên quan tâm là sử dụng thống nhất một bộ sách giáo khoa trên toàn quốc từ năm học 2026 - 2027; đến năm 2030 hoàn thành việc cung cấp miễn phí sách giáo khoa cho học sinh; ưu tiên khu vực biên giới, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi và vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn.
Cùng với đó, Quốc hội quyết nghị có chính sách đặc thù, vượt trội về đãi ngộ đối với nhân lực trong ngành giáo dục. Theo đó, phụ cấp ưu đãi nghề được thực hiện theo lộ trình do Chính phủ quy định đối với cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông công lập với mức tối thiểu 70% đối với giáo viên, tối thiểu 30% đối với nhân viên và 100% đối với giáo viên công tác tại khu vực biên giới, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn.
Thứ ba, thông tư mới về quy chế thi tốt nghiệp trung học phổ thông
Ngày 24/12/2024, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Thông tư 24/2024/TT-BGDĐT về Quy chế thi tốt nghiệp trung học phổ thông, áp dụng từ năm 2025 trở đi. Thông tư 24/2024/TT-BGDĐT có hiệu lực từ ngày 08/02/2025
Đáng chú ý, từ năm 2025 ngoại ngữ sẽ trở thành bài thi tự chọn thay vì là bài thi bắt buộc như những năm trước đây.
Căn cứ tại Điều 3 Quy chế ban hành kèm theo Thông tư 24/2024/TT-BGDĐT quy định về các môn thi của kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông năm 2025 như sau:
Tổ chức kỳ thi gồm 03 buổi thi: 01 buổi thi môn Ngữ văn; 01 buổi thi môn Toán; 01 buổi thi của bài thi tự chọn gồm 02 môn thi trong số các môn: Vật lí, Hóa học, Sinh học, Lịch sử, Địa lí, Giáo dục kinh tế và pháp luật, Tin học, Công nghệ định hướng Công nghiệp (gọi tắt là Công nghệ Công nghiệp), Công nghệ định hướng Nông nghiệp (gọi tắt là Công nghệ Nông nghiệp), Ngoại ngữ (Tiếng Anh, Tiếng Nga, Tiếng Pháp, Tiếng Trung Quốc, Tiếng Đức, Tiếng Nhật và Tiếng Hàn).
Thứ tư, thông tư mới về dạy thêm có hiệu lực
Ngày 30/12/2024, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ký ban hành Thông tư 29/2024/TT-BGDĐT quy định về dạy thêm, học thêm. Thông tư 29/2024/TT-BGDĐT có hiệu lực từ ngày 14/02/2025.
Theo đó, tổ chức hoặc cá nhân tổ chức hoạt động dạy thêm, học thêm ngoài nhà trường có thu tiền của học sinh (sau đây gọi chung là cơ sở dạy thêm) phải thực hiện các yêu cầu sau:
Đăng kí kinh doanh theo quy định của pháp luật;
Công khai trên cổng thông tin điện tử hoặc niêm yết tại nơi cơ sở dạy thêm đặt trụ sở về các môn học được tổ chức dạy thêm; thời lượng dạy thêm đối với từng môn học theo từng khối lớp; địa điểm, hình thức, thời gian tổ chức dạy thêm, học thêm; danh sách người dạy thêm và mức thu tiền học thêm trước khi tuyển sinh các lớp dạy thêm, học thêm (theo Mẫu số 02 tại Phụ lục kèm theo Thông tư 29/2024/TT-BGDĐT).
Ngoài ra, người dạy thêm ngoài nhà trường phải bảo đảm có phẩm chất đạo đức tốt; có năng lực chuyên môn phù hợp với môn học tham gia dạy thêm.
Giáo viên đang dạy học tại các nhà trường tham gia dạy thêm ngoài nhà trường phải báo cáo với Hiệu trưởng hoặc Giám đốc hoặc người đứng đầu nhà trường (sau đây gọi chung là Hiệu trưởng) về môn học, địa điểm, hình thức, thời gian tham gia dạy thêm (theo Mẫu số 03 tại Phụ lục kèm theo Thông tư 29/2024/TT-BGDĐT).
Thứ năm, linh hoạt môn thi thứ ba ở kỳ thi tuyển sinh vào lớp 10 trung học phổ thông
Ngày 30/12/2024, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Thông tư 30/2024/TT-BGDĐT quy định về quy chế tuyển sinh trung học cơ sở và tuyển sinh trung học phổ thông. Thông tư 30/2024/TT-BGDĐT có hiệu lực từ ngày 14/02/2025.
Theo đó, số môn thi, bài thi tuyển sinh vào lớp 10 trung học phổ thông năm 2025 sẽ gồm: Toán, Ngữ văn và 01 môn thi hoặc bài thi thứ ba do Sở Giáo dục và Đào tạo lựa chọn 01 trong 02 phương án sau:
Môn thi thứ ba được lựa chọn trong số các môn học có đánh giá bằng điểm số trong chương trình giáo dục phổ thông cấp trung học cơ sở, bảo đảm không chọn cùng một môn thi thứ ba quá 03 (ba) năm liên tiếp
Bài thi thứ ba là bài thi tổ hợp của một số môn học được lựa chọn trong số các môn học có đánh giá bằng điểm số trong chương trình giáo dục phổ thông cấp trung học cơ sở.
Đối với các trường trung học phổ thông thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo, đại học, trường đại học, viện nghiên cứu có tổ chức thi tuyển riêng thì môn thi hoặc bài thi thứ ba do Bộ Giáo dục và Đào tạo, đại học, trường đại học, viện nghiên cứu trực tiếp quản lý lựa chọn.
Thứ sáu, quy định Khung năng lực số cho người học
Ngày 24/1/2025, Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Thông tư 02/2025/TT-BGDĐT quy định Khung năng lực số cho người học. Thông tư này có hiệu lực thi hành từ 11/3/2025.
Thông tư này áp dụng đối với các cơ sở giáo dục, các chương trình giáo dục, đào tạo và người học trong hệ thống giáo dục quốc dân; các tổ chức, cá nhân có liên quan.
Khung năng lực số được sử dụng làm cơ sở để xây dựng chuẩn chương trình đào tạo; xây dựng và phát triển chương trình giáo dục; xây dựng tài liệu học tập, tài liệu hướng dẫn để phát triển năng lực số cho người học.
Đồng thời, làm cơ sở để đánh giá yêu cầu, kết quả đạt được về năng lực số của người học trong các chương trình giáo dục; xây dựng tiêu chí trong kiểm tra, đánh giá, công nhận năng lực số của người học; bảo đảm tính thống nhất về yêu cầu năng lực số của người học; làm cơ sở để đối sánh hoặc tham chiếu giữa các chương trình giáo dục, khung năng lực số.
Theo Thông tư, khung năng lực số cho người học bao gồm 6 miền năng lực với 24 năng lực thành phần, được chia thành 4 trình độ từ cơ bản đến chuyên sâu theo 8 bậc.
Thông tư cũng quy định về mô tả các miền năng lực và năng lực thành phần; mô tả các năng lực thành phần theo các bậc của Khung năng lực số cho người học.
Thứ bảy, quy định chế độ làm việc đối với giáo viên phổ thông, dự bị đại học
Thông tư số 05/2025/TT-BGDĐT quy định chế độ làm việc đối với giáo viên phổ thông, dự bị đại học (gọi tắt là Thông tư số 05) do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành có hiệu lực thi hành từ ngày 22/4/2025.
Thông tư số 05 quy định thời gian làm việc của giáo viên thực hiện theo năm học và được quy đổi thành tiết dạy, bao gồm số tiết dạy trong 1 năm học và số tiết dạy trung bình trong 1 tuần.
Việc phân công, bố trí nhiệm vụ cho giáo viên phải bảo đảm quy định về định mức tiết dạy, thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi theo quy định của pháp luật; bảo đảm công khai, công bằng giữa các giáo viên trong cùng trường. Trường hợp phải bố trí giáo viên kiêm nhiệm, hiệu trưởng ưu tiên phân công kiêm nhiệm đối với giáo viên dạy chưa đủ định mức tiết dạy trung bình trong 1 tuần và bảo đảm giáo viên đáp ứng yêu cầu thực hiện nhiệm vụ được phân công.
Thông tư số 05 đã bổ sung quy định về nguyên tắc xác định chế độ làm việc của giáo viên; bổ sung quy định về định mức tiết dạy cho giáo viên dạy cấp trung học phổ thông ở trường lớp, dành cho người khuyết tật là 15 tiết/tuần; bổ sung quy định giảm 3 tiết/tuần đối với giáo viên kiêm nhiệm vị trí việc làm văn thư, công nghệ thông tin, thư viện, hỗ trợ giáo dục người khuyết tật; bổ sung quy định về thời gian nghỉ hằng năm của hiệu trưởng, phó hiệu trưởng;…
Bên cạnh đó, Thông tư số 05 điều chỉnh quy định về thời gian thực dạy của giáo viên; điều chỉnh cách quy định định mức tiết dạy của giáo viên làm Tổng phụ trách đội; điều chỉnh quy định về số nhiệm vụ tối đa giáo viên được kiêm nhiệm;...
Thứ tám, phân định thẩm quyền chính quyền 2 cấp lĩnh vực quản lý nhà nước
Chính phủ ban hành Nghị định số 142/2025/NĐ-CP quy định về phân định thẩm quyền của chính quyền địa phương hai cấp trong lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2025.
Theo Nghị định, thẩm quyền thành lập hoặc cho phép thành lập, cho phép hoạt động giáo dục, đình chỉ hoạt động giáo dục, sáp nhập, chia, tách, giải thể nhà trẻ, trường mẫu giáo, trường mầm non công lập, dân lập, tư thục; trường tiểu học công lập, tư thục trường trung học cơ sở và trường phổ thông
Bên cạnh đó là các hàng loạt Thông tư 10, 11, 12, 13/2025/TT-BGDĐT quy định về phân quyền, phân cấp và phân định thẩm quyền thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước của chính quyền địa phương hai cấp đối với giáo dục mầm non, phổ thông, lĩnh vực nhà giáo cán bộ quản lý giáo dục,…khi thực hiện chính quyền địa phương 2 cấp, bỏ cấp huyện.
Thứ chín, học sinh mầm non, phổ thông được miễn học phí từ năm 2025-2026
Chính phủ đã ban hành Nghị định số 238/2025/NĐ-CP ngày 3/9/2025 quy định về chính sách học phí, miễn, giảm, hỗ trợ học phí, hỗ trợ chi phí học tập và giá dịch vụ trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo.
Nghị định quy định 14 đối tượng được miễn học phí, trong đó, có nhóm đối tượng là trẻ em mầm non, học sinh phổ thông, người học chương trình giáo dục phổ thông (học viên theo học chương trình giáo dục thường xuyên cấp trung học cơ sở và học viên theo học chương trình giáo dục thường xuyên cấp trung học phổ thông) trong cơ sở giáo dục công lập thuộc hệ thống giáo dục quốc dân; học sinh, sinh viên trong các cơ sở giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học là người khuyết tật;...
Thứ mười, hướng dẫn tổ chức dạy học 2 buổi/ngày đối với các cơ sở giáo dục
Bộ Giáo dục và Đào tạo vừa ban hành công văn hướng dẫn tổ chức dạy học 2 buổi/ngày đối với giáo dục phổ thông, thực hiện từ năm học 2025-2026.
Việc dạy học 2 buổi/ngày được phân định rõ giữa buổi 1 và buổi 2. Trong đó, buổi 1 là thời gian thực hiện chương trình giáo dục phổ thông chính khóa gồm các môn học và hoạt động giáo dục bắt buộc, các môn tự chọn, các chuyên đề nâng cao (đối với cấp trung học phổ thông).
Buổi 2 dành cho các hoạt động bổ trợ như bồi dưỡng học sinh giỏi, phụ đạo học sinh yếu, kỹ năng sống, nghệ thuật, thể chất, STEM, ngoại ngữ...
Việc tổ chức buổi 1, buổi 2 có thể linh hoạt về thời gian, cân đối về thời lượng, phù hợp với điều kiện của từng trường.
Hướng dẫn của Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định kinh phí tổ chức được bố trí từ ngân sách địa phương, thực hiện lồng ghép có hiệu quả chương trình, đề án, dự án để tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, thiết bị dạy học, kinh phí chi cho việc thực hiện.
Với cấp tiểu học, mỗi ngày dạy tối đa 7 tiết (35 phút/tiết), tối thiểu 9 buổi/tuần. Với trung học cơ sở, trung học phổ thông, dạy tối đa 11 buổi/tuần (45 phút/tiết), không quá 7 tiết/ngày.
Mười một, mức hỗ trợ bảo hiểm y tế cho học sinh tối thiểu 50%
Theo Nghị định 188 năm 2025 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo hiểm y tế, trong đó từ 1.7.2025, nâng mức hỗ trợ đóng bảo hiểm y tế đối với học sinh, sinh viên từ 30% lên tối thiểu 50%.
Theo quy định hiện hành, mức đóng bảo hiểm y tế hằng tháng của học sinh, sinh viên được tính bằng 4,5% mức lương cơ sở.
Hiện mức lương cơ sở đang là 2.340.000 đồng/tháng (theo quy định tại nghị định số 73 năm 2024 của Chính phủ).
Như vậy, mức đóng bảo hiểm y tế cho một học sinh, sinh viên trong một năm là: 4,5% × 2.340.000 × 12 tháng = 1.263.600 đồng/năm.
Với mức hỗ trợ mới tối thiểu 50% từ ngân sách nhà nước, học sinh, sinh viên chỉ phải đóng tối đa 631.800 đồng/năm. So với mức đóng trước đây, học sinh, sinh viên được giảm thêm 252.720 đồng/năm.
Bên cạnh mức hỗ trợ từ ngân sách nhà nước là 50%, một số tỉnh thành sử dụng ngân sách của tỉnh để hỗ trợ thêm mức đóng bảo hiểm y tế cho học sinh, sinh viên. Cha mẹ học sinh, sinh viên có thể theo dõi mức hỗ trợ trên cổng thông tin của tỉnh, đảm bảo quyền lợi khi tham gia bảo hiểm y tế.
Mười hai, chính thức bỏ hình thức đình chỉ học sinh từ ngày 31/10/2025
Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Thông tư 19/2025/TT-BGDĐT (có hiệu lực từ ngày 31/10/2025) quy định về khen thưởng và kỷ luật học sinh.
Theo đó, căn cứ Điều 13 Thông tư 19/2025/TT-BGDĐT có quy định về các biện pháp kỷ luật như sau:
Với học sinh tiểu học, Bộ Giáo dục và Đào tạo đưa ra biện pháp kỷ luật gồm 2 mức độ: nhắc nhở và yêu cầu xin lỗi. Với học sinh ngoài đối tượng học sinh tiểu học (tức học sinh từ trung học cơ sở trở lên) sẽ áp dụng hình thức kỷ luật là nhắc nhở, phê bình và yêu cầu viết bản tự kiểm điểm.
Tuy nhiên, quy định này cũng đang nhận được nhiều ý kiến trái chiều, Bộ Giáo dục và Đào tạo đang nghiên cứu để có những điều chỉnh cho phù hợp.
Mười ba, thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục
Kỳ họp thứ 10, sáng ngày 10/12/2025, Quốc hội đã thông qua Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Giáo dục. Theo đó, Luật đã quy định rõ về nhà giáo, vị trí pháp lý của các cơ sở giáo dục, phát triển trí tuệ nhân tạo trong giáo dục và đào tạo, hệ thống văn bằng chứng chỉ của hệ thống giáo dục quốc dân và đặc biệt là thống nhất sử dụng một bộ sách giáo khoa giáo dục phổ thông trên toàn quốc.
Một số nội dung mới bao gồm: Bổ sung mô hình “trung học nghề” thuộc giáo dục nghề nghiệp và quy định chi tiết về phân luồng.
Thống nhất, liên thông về văn bằng, chứng chỉ của hệ thống giáo dục quốc dân.
Ứng dụng, phát triển trí tuệ nhân tạo trong giáo dục và đào tạo.
Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định các trường hợp học sinh học vượt lớp, học ở tuổi cao hơn hoặc thấp hơn quy định.
Quy định rõ về nhà giáo và các chủ thể tham gia hoạt động giáo dục,…
Mười bốn, Luật Nhà giáo chính thức có hiệu lực 01/01/2026
Luật Nhà giáo 2025 có những điểm nổi bật là khẳng định vị thế, tôn vinh danh dự nhà giáo (công lập và ngoài công lập), quy định lương ở mức cao nhất trong thang bậc hành chính sự nghiệp, có chính sách đãi ngộ, thu hút tốt hơn (hỗ trợ nhà ở, vùng khó khăn), chuẩn hóa đội ngũ qua hệ thống chuẩn nghề nghiệp chung, và tăng quyền tự chủ tuyển dụng, sử dụng nhà giáo, với hiệu lực từ 1/1/2026. Luật cũng quy định nghỉ hưu sớm/muộn linh hoạt và xử lý nghiêm hành vi xúc phạm nhà giáo.
Đây cũng là cơ sở quan trọng để cải thiện thu nhập, tôn vinh và khẳng định vai trò, vị thế của nhà giáo.
Mười lăm, rà soát và xét thăng hạng cho giáo viên
Công văn 7723/BGDĐT-NGCBQLGD ban hành trong năm 2025 chỉ đạo rà soát, tổ chức thăng hạng chức danh nghề nghiệp cho giáo viên theo quy định, hướng dẫn hồ sơ, tiêu chí và tiến độ rà soát. Đây là văn bản nghiệp vụ quan trọng cho giáo viên mong muốn thăng hạng lên các bậc nghề nghiệp cao hơn. Giáo viên có cơ hội được rà soát để thăng hạng nếu đủ điều kiện, tiêu chuẩn có thể được xét thăng hạng.
Đây cũng sẽ là lần thăng hạng cuối cùng, bởi từ 01/01/2026, theo Luật Nhà giáo không còn chia hạng mà chuyển sang chức danh nghề nghiệp mới gồm giáo viên, giáo viên chính và giáo viên cao cấp mà không còn hạng I, II, III.
Lần này, giáo viên cả nước háo hức chờ đợi. Các địa phương cũng đã ban hành các thủ tục, hướng dẫn để xét thăng hạng cho giáo viên.
(*) Văn phong, nội dung bài viết thể hiện góc nhìn, quan điểm của tác giả.