Theo văn bản số 8562/BGDĐT-TCCB về định hướng sắp xếp, tổ chức lại cơ sở giáo dục đại học công lập và cơ sở giáo dục nghề nghiệp công lập do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành đã nêu: Bộ Y tế cùng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch được chủ động rà soát, xây dựng và quyết định phương án sắp xếp các cơ sở đào tạo trực thuộc đào tạo chuyên sâu khối ngành sức khỏe và nghệ thuật. Việc sắp xếp bảo đảm phù hợp với yêu cầu chuyên môn, hướng tới tinh gọn bộ máy và nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động.
Nhiều lãnh đạo cơ sở giáo dục đại học trực thuộc Bộ Y tế cho rằng định hướng này là phù hợp, cho thấy sự linh hoạt trong quản lý và tránh áp dụng rập khuôn một mô hình sắp xếp cho tất cả các lĩnh vực đào tạo. Trên cơ sở đó, họ cũng đặt nhiều kỳ vọng vào hiệu quả triển khai trong thực tiễn.
Cần ưu tiên chất lượng và đặc thù ngành khi sắp xếp trường y, dược
Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Phó Giáo sư, Tiến sĩ, Bác sĩ Ngô Quốc Đạt - Hiệu trưởng Trường Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh cho biết, chủ trương sắp xếp, tổ chức lại các cơ sở giáo dục đại học hiện nay là hợp lý và phù hợp với định hướng chung của Đảng, Nhà nước trong giai đoạn phát triển mới của giáo dục đại học.
Sau một thời gian mở rộng quy mô, việc rà soát, sắp xếp lại để hình thành những cơ sở đào tạo có đủ năng lực, quy mô và chất lượng là xu hướng tất yếu, phù hợp với thông lệ quốc tế. Việc này nhằm tránh tình trạng phát triển dàn trải, phân tán nguồn lực, đồng thời tạo điều kiện tập trung đầu tư cho các cơ sở đào tạo có thế mạnh, đóng vai trò nòng cốt trong hệ thống.
“Đối với lĩnh vực khoa học sức khỏe, đây là ngành đào tạo mang tính đặc thù cao, gắn chặt với nhu cầu nhân lực của hệ thống y tế và trực tiếp ảnh hưởng đến chất lượng chăm sóc sức khỏe nhân dân; do đó, việc Bộ Giáo dục và Đào tạo để Bộ Y tế chủ trì rà soát, quy hoạch và quyết định phương án sắp xếp các cơ sở đào tạo trực thuộc là phù hợp và cần thiết.
Với vai trò là cơ quan quản lý, Bộ Y tế nắm rõ nhất năng lực đào tạo, đặc điểm chuyên môn của từng cơ sở, cũng như nhu cầu sử dụng nhân lực của từng tuyến, từng vùng, từ đó có thể đưa ra các quyết định sát thực tiễn hơn so với việc áp dụng một mô hình quản lý chung”, thầy Đạt nhấn mạnh.
Ngoài ra, văn bản số 8562/BGDĐT-TCCB nêu rõ việc sắp xếp, tổ chức lại không dựa vào mức độ tự chủ tài chính mà cần căn cứ vào vị trí địa lý, không gian, tình hình kinh tế - xã hội, nhu cầu nhân lực của địa phương, của cả nước; căn cứ vào ngành nghề đào tạo, thực tế hoạt động của các cơ sở giáo dục; có đánh giá tới yếu tố thương hiệu, tầm ảnh hưởng trong nước, quốc tế của đơn vị.
Theo thầy Đạt, đây là chủ trương đúng đắn, bởi tự chủ là yêu cầu quan trọng nhưng chỉ phản ánh một phần năng lực của cơ sở đào tạo, không thể thay thế vai trò điều phối của Nhà nước trong phát triển nhân lực y tế. Thực tiễn cho thấy, nếu các cơ sở đào tạo hoàn toàn vận hành theo cơ chế thị trường và chạy theo mục tiêu kinh tế, rất dễ dẫn đến xu hướng tập trung đào tạo các ngành “hot” như bác sĩ, dược sĩ; trong khi nhiều lĩnh vực thiết yếu khác như kỹ thuật viên y tế, điều dưỡng, công tác xã hội y tế hay các chuyên ngành phục vụ chăm sóc sức khỏe toàn diện lại rơi vào tình trạng thiếu hụt nhân lực.
Việc sắp xếp các cơ sở đào tạo cần được đặt trong một quy hoạch tổng thể về nhân lực y tế quốc gia, có sự cân nhắc hài hòa giữa các yếu tố như vị trí địa lý, cơ cấu ngành nghề đào tạo, nhu cầu nhân lực của từng địa phương và khả năng đầu tư nguồn lực.
Trong đó, vai trò của cơ quan quản lý nhà nước là hết sức quan trọng, nhằm bảo đảm sự cân đối trong phát triển mạng lưới đào tạo, tránh tình trạng đầu tư dàn trải nhưng hiệu quả thấp. Phó Giáo sư Ngô Quốc Đạt cho rằng, chỉ khi các yếu tố này được xem xét một cách hệ thống và đồng bộ, việc sắp xếp mới thực sự góp phần nâng cao chất lượng đào tạo, đáp ứng yêu cầu chuyển dịch của hệ thống y tế từ điều trị sang chăm sóc sức khỏe toàn diện, cũng như bảo đảm an ninh y tế quốc gia trong dài hạn.
Bàn về vấn đề này, Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Hải Nam - Hiệu trưởng Trường Đại học Dược Hà Nội đánh giá, văn bản của Bộ Giáo dục và Đào tạo đã nêu rõ ba yếu tố cần xem xét gồm vị trí địa lý, nhu cầu nhân lực và ngành nghề đào tạo. Trong đó, cơ cấu ngành nghề đào tạo nên được đặt ở vị trí ưu tiên hàng đầu. Việc sắp xếp các cơ sở đào tạo trước hết phải bảo đảm sự tương thích về lĩnh vực chuyên môn, bởi đây là nền tảng quyết định chất lượng đào tạo, khả năng kế thừa và phát huy thế mạnh của các đơn vị sau khi tổ chức lại.
Bên cạnh yếu tố chuyên môn, vị trí địa lý cũng có vai trò quan trọng và cần được cân nhắc một cách hợp lý trong quá trình sắp xếp. Việc sáp nhập các cơ sở đào tạo có khoảng cách địa lý quá xa có thể phát sinh không ít khó khăn trong công tác quản lý, điều hành, tổ chức đào tạo cũng như khai thác hiệu quả nguồn lực.
Từ thực tiễn đào tạo, thầy Nam cho rằng đối với những lĩnh vực mang tính chuyên sâu như dược học, mô hình sắp xếp theo hướng một cơ sở đào tạo nòng cốt, có thể phát triển thêm các phân hiệu hoặc cơ sở thành viên tại những địa phương phù hợp là phương án khả thi. Cách tiếp cận này vừa bảo đảm yếu tố địa lý và đáp ứng nhu cầu đào tạo nhân lực theo vùng, vừa giữ được sự thống nhất về chương trình, chuẩn đầu ra và chiều sâu chuyên môn.
Đồng thời, các cơ sở đào tạo lớn, có uy tín và thế mạnh sẽ đóng vai trò dẫn dắt, hỗ trợ các đơn vị quy mô nhỏ hơn trong cùng lĩnh vực, qua đó góp phần nâng cao chất lượng đào tạo và thúc đẩy sự phát triển bền vững của mạng lưới đào tạo nhân lực y tế nói chung.
Không thể “đong đếm” chất lượng đào tạo ngành đặc thù bằng các tiêu chí cơ học
Theo văn bản số 8562/BGDĐT-TCCB, một trong các tiêu chí xác định cơ sở thuộc diện phải tiến hành sắp xếp, tổ chức lại dựa trên việc cơ sở giáo dục đó không đảm bảo điều kiện thành lập theo quy định của pháp luật hiện hành hoặc các ngành đào tạo không đảm bảo điều kiện mở ngành, duy trì ngành đào tạo.
Ngoài ra, nghiên cứu sắp xếp, tổ chức lại đối với cơ sở giáo dục đại học không đảm bảo chuẩn cơ sở giáo dục đại học theo quy định tại Thông tư số 01/2024/TT-BGDĐT ngày 05/02/2024 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành chuẩn cơ sở giáo dục đại học.
Về đặc thù nghiên cứu khoa học và công nghệ trong lĩnh vực y tế, Phó Giáo sư, Tiến sĩ, Bác sĩ Ngô Quốc Đạt cho rằng, so với các trường đào tạo khối ngành kỹ thuật và công nghệ, hoạt động khoa học công nghệ trong lĩnh vực sức khỏe có những hạn chế và thách thức riêng, khó có thể phát triển theo cùng một “khuôn mẫu” đánh giá.
Theo thầy Đạt, Thông tư 01 của Bộ Giáo dục và Đào tạo là một công cụ quản lý cần thiết, góp phần chuẩn hóa hệ thống giáo dục đại học. Tuy nhiên, các tiêu chí trong thông tư hiện vẫn thiên nhiều về yếu tố định lượng như diện tích bình quân trên sinh viên, tỷ lệ giảng viên có trình độ tiến sĩ hay tỷ trọng nguồn thu từ hoạt động khoa học và công nghệ. Với các cơ sở đào tạo thuộc lĩnh vực y tế, cách tiếp cận này chưa phản ánh đầy đủ bản chất và thế mạnh của ngành.
“Thông tư 01 đã có bước đi quan trọng khi quy định tỷ lệ yêu cầu đối với các ngành đặc thù như y tế hay nghệ thuật thấp hơn so với các lĩnh vực khác. Tuy nhiên, theo tôi, cần đi xa hơn, không chỉ dừng ở việc điều chỉnh tỷ lệ phần trăm mà phải quy định rõ nội hàm chất lượng, tiêu chuẩn chuyên môn và điều kiện đào tạo bắt buộc. Bởi lẽ, thế mạnh cốt lõi của khối ngành lĩnh vực sức khỏe không nằm ở thương mại hóa công nghệ mà ở nhiệm vụ đào tạo nhân lực, phục vụ cộng đồng và góp phần nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe cho xã hội.
Từ thực tiễn đào tạo, cần có sự điều chỉnh linh hoạt trong hệ thống tiêu chí đánh giá, theo hướng bổ sung các chuẩn mực chuyên ngành thay vì chỉ dừng lại ở các con số thuần túy. Chẳng hạn, với đào tạo y khoa, tiêu chí quan trọng không chỉ là quy mô hay tỷ lệ tiến sĩ mà còn là chất lượng chương trình đào tạo, mức độ hội nhập quốc tế và việc đáp ứng các chuẩn kiểm định chương trình đào tạo.
Ngoài cơ sở vật chất và đội ngũ giảng viên, cần có tiêu chí bắt buộc về bệnh viện thực hành trực thuộc hoặc liên kết chặt chẽ, bảo đảm sinh viên được đào tạo trong môi trường lâm sàng đạt chuẩn. Đặc biệt, trong bối cảnh hội nhập, các chương trình đào tạo y khoa của Việt Nam cần hướng tới việc đạt được các chuẩn mực quốc tế như chuẩn của Liên đoàn Y khoa Thế giới hoặc các bộ tiêu chuẩn kiểm định chuyên ngành y tế. Đây là thước đo thực chất cho chất lượng đào tạo, thay vì chỉ chạy theo các tiêu chí áp dụng chung cho mọi lĩnh vực.
Điều này cho thấy sự cần thiết phải xây dựng hệ thống tiêu chí riêng, phù hợp với đặc thù đào tạo khoa học sức khỏe, nhằm cân bằng giữa yêu cầu về số lượng và chất lượng”, thầy Đạt cho hay.
Về vấn đề sáp nhập và tổ chức lại các cơ sở đào tạo y tế, đặc biệt giữa các trường quy mô lớn tại các đô thị trung tâm với các trường y ở địa phương, Phó Giáo sư Ngô Quốc Đạt nhấn mạnh rằng vấn đề then chốt nằm ở chiến lược phát triển dài hạn và hệ thống chuẩn chất lượng đào tạo.
Theo thầy Đạt, việc sắp xếp lại mạng lưới đào tạo y tế chỉ thực sự phát huy hiệu quả khi đi kèm cơ chế giám sát, hậu kiểm chặt chẽ. Những cơ sở không đáp ứng được các tiêu chuẩn chuyên ngành cần kiên quyết dừng tuyển sinh hoặc đóng ngành, nhằm bảo đảm tính công bằng và giữ vững chất lượng chung của hệ thống, tránh tình trạng “đạt chuẩn trên hồ sơ” nhưng không phản ánh đúng năng lực đào tạo thực tế.
Từ góc nhìn đó, lãnh đạo Trường Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh kiến nghị, trong quá trình triển khai chủ trương sắp xếp các cơ sở đào tạo khối ngành sức khỏe, Bộ Y tế cần tiếp tục phát huy vai trò điều phối, xây dựng quy hoạch tổng thể về nhân lực y tế quốc gia, đồng thời hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn đào tạo mang tính đặc thù của ngành. Việc tinh gọn mạng lưới đào tạo chỉ thực sự hiệu quả khi được đặt trong một khung chính sách đồng bộ, lấy chất lượng đào tạo và nhu cầu nhân lực y tế làm trọng tâm, thay vì chỉ dựa vào các chỉ tiêu định lượng thuần túy.
Đồng quan điểm trên, Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Hải Nam nhận định rằng cần có các quy định chi tiết hơn, không chỉ dựa vào chỉ số số lượng mà chú trọng đánh giá chất lượng nghiên cứu, cho phép quy đổi linh hoạt nhằm phản ánh đúng giá trị khoa học.
Thực tiễn nghiên cứu hiện nay có những nhà khoa học mỗi năm chỉ công bố một vài công trình nghiên cứu nhưng ở các tạp chí uy tín, có tầm ảnh hưởng lớn, giá trị học thuật và tác động khoa học vượt trội so với nhiều công bố ở các tạp chí chất lượng thấp hơn. Vì vậy, nếu chỉ đánh giá dựa trên số lượng công bố sẽ khó phản ánh đầy đủ chất lượng và đóng góp thực sự của hoạt động nghiên cứu khoa học.
Từ góc nhìn của một nhà khoa học đồng thời là nhà quản lý, thầy Nam cho rằng nếu có thể bổ sung các tiêu chí đánh giá sâu hơn về chất lượng, tầm ảnh hưởng và giá trị khoa học của công trình nghiên cứu, đặc biệt đối với các lĩnh vực đào tạo đặc thù như lĩnh vực sức khỏe thì sẽ tạo được sự cân bằng hợp lý hơn giữa yêu cầu quản lý và đặc điểm chuyên môn, qua đó thúc đẩy các cơ sở đào tạo phát triển bền vững, đúng hướng.
Đồng thời, Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Hải Nam cho biết, Trường Đại học Dược Hà Nội đang được định hướng phát triển theo mô hình đại học nghiên cứu và là cơ sở đào tạo hàng đầu trong lĩnh vực dược học. Do đó, các chỉ số về khoa học và công nghệ không những đáp ứng mà còn vượt khá xa so với yêu cầu tối thiểu của chuẩn cơ sở giáo dục đại học. Khó khăn lớn nhất của nhà trường hiện nay chủ yếu nằm ở tiêu chí về cơ sở vật chất do trường tọa lạc tại khu vực nội đô thành phố Hà Nội - nơi quỹ đất còn hạn chế.
Để từng bước khắc phục vấn đề này, lãnh đạo Trường Đại học Dược Hà Nội cho biết, nhà trường đã và đang triển khai nhiều phương án cụ thể. Trong đó, một dự án xây dựng cơ sở mới tại tỉnh Bắc Ninh hiện đang được triển khai và ở giai đoạn đấu thầu.
Bên cạnh đó, nhà trường đã đề xuất dự án đầu tư trung hạn nhằm nâng cấp, mở rộng khu ký túc xá tại phố Thọ Lão (Hà Nội), cách cơ sở chính khoảng 1km. Dự án được định hướng vừa mở rộng diện tích phục vụ đào tạo, nghiên cứu khoa học, vừa cải thiện điều kiện sinh hoạt cho sinh viên. Hiện nay, dự án này đã được đưa vào kế hoạch đầu tư trung hạn và nhà trường đang tích cực triển khai các bước tiếp theo.
Ngoài ra, trong bối cảnh nhiều bộ, ngành đang sắp xếp lại, dôi dư cơ sở vật chất, Trường Đại học Dược Hà Nội cũng nhận được sự hỗ trợ từ Bộ Y tế trong việc tiếp cận, đề xuất tiếp nhận một số cơ sở phù hợp với chức năng, nhiệm vụ đào tạo, nghiên cứu của trường với những tín hiệu bước đầu khá tích cực.