Trường ĐH Bách khoa, ĐH Đà Nẵng lý giải nguyên nhân khiến tỷ lệ SV tốt nghiệp đúng hạn chỉ đạt 47,1%

03/02/2026 06:26
Khánh Hòa

GDVN - Theo Báo cáo thường niên năm 2024 của Trường Đại học Bách khoa, Đại học Đà Nẵng, tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp đúng hạn của trường mới đạt 47,1%.

Trường Đại học Bách khoa, Đại học Đà Nẵng tiền thân là Viện Đại học Đà Nẵng, được thành lập theo Quyết định số 66/QĐ ngày 15/7/1975. Đến tháng 10/1976, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 426/TTg thành lập Trường Đại học Bách khoa Đà Nẵng trên cơ sở của Viện Đại học Đà Nẵng.

Tháng 4/1994, khi Đại học Đà Nẵng được thành lập theo Nghị định số 32/CP của Chính phủ, trường được đổi tên thành Trường Đại học Kỹ thuật và trở thành trường thành viên của Đại học Đà Nẵng. Ngày 9/3/2004, Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Quyết định số 1178/QĐ-BGD&ĐT-TCCB, chính thức đổi tên Trường Đại học Kỹ thuật thành Trường Đại học Bách khoa.

Sứ mệnh của trường là "cơ sở giáo dục đại học cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao, có năng lực đổi mới, sáng tạo và khởi nghiệp trong lĩnh vực kỹ thuật - công nghệ; thực hiện nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ phục vụ sự phát triển bền vững kinh tế - xã hội của miền Trung - Tây Nguyên, trong nước và quốc tế".

Hiện, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Hữu Hiếu là Hiệu trưởng nhà trường.

anh-truong.jpg
Trường Đại học Bách khoa, Đại học Đà Nẵng. Ảnh website nhà trường.

Theo quy định, từ ngày 19/07/2024, các cơ sở giáo dục thực hiện báo cáo thường niên theo Thông tư số 09/2024/TT-BGDĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định về công khai trong hoạt động của các cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân. Thời điểm công khai trước 30/6 hàng năm.

Thời gian vừa qua, Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam nhận được phản ánh của phụ huynh khi tìm hiểu Báo cáo thường niên năm 2024 của Trường Đại học Bách khoa, Đại học Đà Nẵng có nhiều thông tin chưa rõ. Để có thêm thông tin chính xác, khách quan đến phụ huynh và xã hội, phóng viên đã tiến hành tìm hiểu báo cáo thường niên, liên hệ gửi câu hỏi tới nhà trường nhằm giải đáp một số băn khoăn của độc giả.

Tỷ lệ giảng viên có trình độ tiến sĩ cao nhờ loạt chính sách thu hút, giữ chân hiệu quả

Theo bảng các chỉ số đánh giá về đội ngũ giảng viên toàn thời gian tại Báo cáo thường niên năm 2024 của Trường Đại học Bách khoa, Đại học Đà Nẵng cho thấy, tỷ lệ giảng viên có trình độ tiến sĩ của nhà trường trong năm 2024 đạt 61,03%. Đây là tỷ lệ tương đối cao so với chuẩn cơ sở giáo dục đại học quy định tại Thông tư 01/2024-BGDĐT ngày 5/2/2024 của Bộ Giáo dục và Đào tạo.

giang-vien.jpg
Tỷ lệ giảng viên có trình độ tiến sĩ năm 2024 của Trường Đại học Bách khoa, Đại học Đà Nẵng đạt 61,03%. Ảnh chụp màn hình.

Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Hữu Hiếu cho biết, Trường Đại học Bách khoa, Đại học Đà Nẵng là đơn vị có tỷ lệ giảng viên có trình độ tiến sĩ cao nhất trong số các trường đại học thành viên của Đại học Đà Nẵng, đồng thời là một trong những cơ sở giáo dục đại học có tỷ lệ giảng viên có trình độ cao trong phạm vi cả nước. Để đạt được kết quả này và duy trì sự ổn định, phát triển bền vững của đội ngũ, nhà trường đã tích lũy, hình thành một số kinh nghiệm, cụ thể như sau:

Trước hết, trường có bề dày hơn 50 năm hình thành và phát triển, được khẳng định bởi uy tín trong đào tạo kỹ thuật - công nghệ. Chính nền tảng lịch sử và "thương hiệu" học thuật này đã tạo niềm tin cho giảng viên có trình độ tiến sĩ lựa chọn gắn bó với trường, vì họ được làm việc trong một cộng đồng học thuật nghiêm túc, có chuẩn mực và định hướng phát triển rõ ràng. Đây được xem là yếu tố quyết định trong việc thu hút, giữ chân giảng viên có trình độ cao về công tác tại trường.

Bên cạnh nền tảng truyền thống, từ những năm 2005, nhà trường đã chủ động triển khai các chính sách dài hạn trong đào tạo và phát triển nguồn nhân lực. Theo đó, nhiều giảng viên trẻ có tiềm năng được cử đi đào tạo, học tập và nghiên cứu ở nước ngoài tại các cơ sở giáo dục và viện nghiên cứu uy tín, qua đó thầy cô được tiếp cận môi trường học thuật quốc tế, phương pháp nghiên cứu hiện đại cũng như mạng lưới hợp tác khoa học toàn cầu.

Sau khi hoàn thành chương trình đào tạo, giảng viên trở về trường được tạo điều kiện thuận lợi để phát huy năng lực, tham gia giảng dạy, nghiên cứu khoa học, xây dựng nhóm nghiên cứu và chuyển giao tri thức. Việc tiếp cận mang tính đầu tư sớm, có lộ trình, gắn đào tạo với cam kết phục vụ lâu dài đã góp phần hình thành đội ngũ giảng viên trình độ cao, kế thừa liên tục giữa các thế hệ. Đây cũng là nền tảng quan trọng giúp nhà trường duy trì, nâng cao tỷ lệ giảng viên có trình độ tiến sĩ một cách bền vững.

Ngoài ra, nhà trường đặc biệt chú trọng bảo đảm đời sống và thu nhập của giảng viên như một yếu tố then chốt trong thu hút và ổn định nguồn nhân lực chất lượng cao. Thông qua các chính sách tăng thu nhập gắn với vị trí việc làm, kết quả giảng dạy và nghiên cứu khoa học, giảng viên sẽ có thêm động lực cống hiến và yên tâm công tác.

Với giảng viên chưa có nhà tại Đà Nẵng sẽ được hỗ trợ nhà ở trong năm đầu tiên công tác tại trường. Việc này góp phần tháo gỡ khó khăn ban đầu cho giảng viên trẻ và giảng viên đến từ địa phương khác, giúp họ sớm ổn định cuộc sống để tập trung cho hoạt động chuyên môn. Sự kết hợp hài hòa giữa chính sách tài chính và an sinh đã nâng cao sức hút của trường trong thu hút và giữ chân đội ngũ giảng viên trình độ cao.

Lĩnh vực Khoa học sự sống còn khó khăn trong công bố nghiên cứu khoa học quốc tế

Theo bảng thống kê đội ngũ giảng viên toàn thời gian theo các lĩnh vực đào tạo, nhà trường có 449 giảng viên toàn thời gian, trong đó có 420 người là giảng viên cơ hữu trong độ tuổi lao động (chênh lệch giữa giảng viên toàn thời gian và giảng viên cơ hữu trong độ tuổi lao động là 1 giáo sư, 4 phó giáo sư, 3 tiến sĩ, 21 thạc sĩ).

Đáng chú ý, lĩnh vực Khoa học sự sống nhà trường chưa có giáo sư, phó giáo sư nào.

Về vấn đề này, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Hữu Hiếu cho biết, sự chênh lệch giữa giảng viên toàn thời gian và giảng viên cơ hữu trong độ tuổi lao động là do Trường Đại học Bách khoa là trường thành viên của Đại học Đà Nẵng nên ngoài đội ngũ giảng viên cơ hữu, Trường Đại học Bách khoa và các trường thành viên khác được phép dùng chung nguồn lực giảng viên đang công tác tại Đại học Đà Nẵng và các trường thành viên có tham gia giảng dạy tại trường.

Tuy vậy, để phát huy đội ngũ chuyên môn có kinh nghiệm, trường đã ký hợp đồng lao động 12 tháng toàn thời gian với những giảng viên đã nghỉ hưu theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo về chế độ làm việc của giảng viên đại học.

Thầy Hiếu chia sẻ thêm, đối với lĩnh vực Khoa học sự sống ngoài 11 giảng viên cơ hữu (gồm 9 tiến sĩ, 2 thạc sĩ), hiện có 4 phó giáo sư là giảng viên cơ hữu của khoa Hóa (trong tổng số 10 giảng viên có học hàm phó giáo sư của khoa Hóa) tham gia giảng dạy, nghiên cứu khoa học và chủ trì các ngành đào tạo sau đại học ở lĩnh vực Khoa học sự sống của trường.

Nhà trường luôn chú trọng phát triển đội ngũ giảng viên trình độ cao và triển khai nhiều chính sách khuyến khích, hỗ trợ giảng viên có trình độ tiến sĩ tham gia xét công nhận chức danh giáo sư, phó giáo sư.

Tuy nhiên, đối với lĩnh vực Khoa học sự sống, do đặc thù ngành đòi hỏi yêu cầu điều kiện nghiên cứu nên số lượng công bố quốc tế trong lĩnh vực này chưa nhiều. Một số giảng viên lĩnh vực Khoa học sự sống của Khoa Hóa đã và đang tiếp tục nghiên cứu, có công bố để chuẩn bị cho việc đăng ký xét công nhận chức danh phó giáo sư trong các năm sau.

Thời gian tới, nhà trường cũng sẽ triển khai đồng bộ nhiều chính sách phát triển khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo, với các giải pháp trọng tâm, như sau:

Thứ nhất, đầu tư trọng điểm cho nhóm nghiên cứu mạnh, khuyến khích công bố quốc tế chất lượng cao.

Thứ hai, có cơ chế hỗ trợ, đãi ngộ gắn với kết quả khoa học và tham gia xét chức danh học hàm.

Thứ ba, đẩy mạnh hợp tác với các trường đại học, trung tâm, viện nghiên cứu công nghệ sinh học trong nước và quốc tế để phối hợp thực hiện các đề tài nghiên cứu.

Thứ tư, tăng cường hợp tác quốc tế, hình thành nhóm nghiên cứu liên ngành, tạo điều kiện thuận lợi cho đội ngũ giảng viên, đặc biệt trong lĩnh vực Khoa học sự sống.

Những giải pháp này nhằm tháo gỡ rào cản, tạo động lực cho giảng viên phát triển học thuật, qua đó nâng cao chất lượng đội ngũ và vị thế học thuật của Trường Đại học Bách khoa, Đại học Đà Nẵng trong hệ thống giáo dục đại học Việt Nam.

Tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp đúng hạn còn thấp

Tại bảng các chỉ số đánh giá về tuyển sinh và đào tạo, năm 2024, tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp của trường đạt 62%, tuy nhiên, tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp đúng hạn chỉ đạt 47,1%.

tot-nghiep.jpg
Ảnh chụp màn hình.

Theo thầy Hiếu, nguyên nhân chủ yếu khiến tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp đúng hạn của trường mới đạt 47,1% là các em chưa đạt chuẩn năng lực ngoại ngữ đầu ra. Năng lực ngoại ngữ đầu vào của sinh viên khu vực miền Trung mặc dù đã có cải thiện qua từng năm, nhưng nhìn chung vẫn còn thấp.

Ngoài ra, còn một số nguyên nhân khác như: chưa hoàn thành chương trình đào tạo đúng tiến độ; phải học lại; đăng ký ít tín chỉ hơn kế hoạch; ngừng học tạm thời vì lý do cá nhân hoặc ảnh hưởng của hoàn cảnh kinh tế, sức khỏe.

Bên cạnh đó, đặc thù đào tạo khối ngành kỹ thuật - công nghệ có khối lượng học phần lớn, nhiều học phần thực hành, thí nghiệm và đồ án khiến tiến độ học tập kéo dài hơn so với các ngành khác. Vì vậy, tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp đúng hạn của trường trong những năm qua tương đương với tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp đúng hạn của các trường bách khoa nói chung trong cả nước.

Nhận diện rõ vấn đề này, nhà trường triển khai nhiều giải pháp nhằm cải thiện năng lực ngoại ngữ của sinh viên cũng như tăng tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp đúng hạn.

Theo đó, trường quy định lộ trình học tiếng Anh theo từng năm học, giúp sinh viên chủ động xây dựng kế hoạch học tập và đạt chuẩn đầu ra đúng thời điểm. Đồng thời, trường phối hợp với Trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Đà Nẵng tổ chức các khóa học tiếng Anh tăng cường, lớp ôn luyện chuẩn đầu ra và thi đánh giá năng lực định kỳ.

Nhà trường chỉ đạo Đoàn Thanh niên và Hội Sinh viên trong trường triển khai các hoạt động học thuật, câu lạc bộ, diễn đàn, cuộc thi, hội thảo khoa học bằng tiếng Anh nhằm tăng cường môi trường rèn luyện ngoại ngữ thực tế cho sinh viên. Tổ chức một số học phần cơ sở ngành và chuyên ngành giảng dạy hoàn toàn bằng tiếng Anh, từng bước mở rộng tỷ lệ học phần giảng dạy bằng tiếng Anh và các ngoại ngữ phổ biến trong chương trình đào tạo.

Cùng với đó, đẩy mạnh hợp tác quốc tế, tạo điều kiện cho sinh viên tham gia các chương trình trao đổi, giao lưu học thuật và dự án nghiên cứu với sinh viên nước ngoài, nhằm nâng cao khả năng sử dụng tiếng Anh học thuật và chuyên môn.

Không chỉ vậy, nhà trường còn chú trọng tổ chức đào tạo linh hoạt theo hệ thống tín chỉ; tăng cường công tác cố vấn học tập, bảo đảm sinh viên có người hướng dẫn cụ thể trong việc xây dựng kế hoạch học tập, lựa chọn học phần và giải quyết khó khăn học vụ; kịp thời hỗ trợ sinh viên có nguy cơ chậm tiến độ hoặc gặp khó khăn trong quá trình học tập; nhà trường hướng đến mục tiêu xây dựng môi trường học tập linh hoạt, lấy người học làm trung tâm, giúp sinh viên vừa đảm bảo chất lượng, vừa hoàn thành chương trình đúng hạn.

Khánh Hòa