Kỹ sư ở nước ngoài, nhà khoa học nói gì về chính sách đãi ngộ nhân lực công nghệ cao?

25/01/2026 06:26
Tường San

GDVN -Theo chuyên gia, không chỉ dừng lại ở thu nhập, các cơ chế mới còn mang ý nghĩa khẳng định vị thế và đẳng cấp chuyên môn của nhân lực công nghệ cao.

Luật Công nghệ cao được Quốc hội thông qua tháng 12/2025, có hiệu lực từ 1/7/2026 (thay thế cho Luật Công nghệ cao năm 2008) đã đưa ra những quy định cụ thể về các hoạt động công nghệ cao, công nghệ chiến lược và chính sách đãi ngộ đối với nguồn nhân lực công nghệ cao phục vụ phát triển công nghệ cao, công nghệ chiến lược.

Theo đó, nhân lực công nghệ cao được hưởng ưu đãi cao nhất về thuế theo quy định của pháp luật về thuế thu nhập cá nhân, được ưu tiên giao trực tiếp thực hiện các nhiệm vụ khoa học, công nghệ từ các chương trình quốc gia đặc biệt; được hỗ trợ đào tạo nâng cao năng lực nghiên cứu và phát triển công nghệ cao; đồng thời được hỗ trợ bảo hộ, khai thác, thương mại hóa quyền sở hữu trí tuệ đối với công nghệ cao.

Đặc biệt, không chỉ có đãi ngộ về tài chính, luật còn quy định Nhà nước cần bảo đảm các điều kiện sống và làm việc thuận lợi nhất, từ hỗ trợ nhà ở, thủ tục xuất nhập cảnh, cư trú đến cấp giấy phép lao động. Đồng thời, các chuyên gia R&D (nghiên cứu và phát triển) được hỗ trợ sử dụng phòng thí nghiệm dùng chung, cơ sở nghiên cứu công nghệ cao, bảo hộ và thương mại hóa quyền sở hữu trí tuệ.

Những chính sách này được đánh giá sẽ là động lực để thu hút đội ngũ nhân lực công nghệ cao, đặc biệt là những chuyên gia người Việt Nam ở nước ngoài.

Thể hiện nỗ lực rất lớn của Nhà nước trong việc hỗ trợ tối đa cho đội ngũ chuyên gia công nghệ cao

Chia sẻ với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Tiến sĩ Võ Quang Hiếu – kỹ sư nghiên cứu tại Công ty Samsung Electronics (Hàn Quốc) cho rằng, Luật Công nghệ cao năm 2025 cho thấy sự cải thiện rõ rệt trong các chính sách ưu đãi mà Nhà nước dành cho đội ngũ làm nghiên cứu công nghệ cao nói chung, đặc biệt là những chuyên gia đang có mong muốn trở về quê hương để cống hiến.

Từ góc nhìn của một nhà nghiên cứu đang làm việc ở nước ngoài trong lĩnh vực công nghệ cao (vi mạch bán dẫn), anh Hiếu nhận định, việc sửa đổi luật lần này chắc chắn sẽ thu hút được sự quan tâm của nhiều chuyên gia nghiên cứu tài năng trên thế giới, đặc biệt là những chuyên gia người Việt đang làm việc ở nước ngoài. Tuy nhiên, việc thu hút ngay lập tức một số lượng lớn chuyên gia quay trở về là điều khó có thể xảy ra, mà nhiều khả năng sẽ diễn ra trong một khoảng thời gian nhất định, khi các chính sách dần được hiện thực hóa và cộng đồng khoa học có thể nhìn thấy những thuận lợi cụ thể thông qua hành động thực tế cũng như kết quả từ những người tiên phong trở về quê hương trước đó.

338699649-1269097334044666-7228746290026353776-n.jpg
Tiến sĩ Võ Quang Hiếu – kỹ sư nghiên cứu tại Công ty Samsung Electronics (Hàn Quốc). Ảnh: NVCC.

Theo Tiến sĩ Võ Quang Hiếu, tùy thuộc vào từng nhóm đối tượng chuyên gia nghiên cứu, mức độ tác động và sức hút của chính sách cũng sẽ có những khác biệt nhất định. Những yếu tố ảnh hưởng có thể đến từ hoàn cảnh gia đình, sở thích về môi trường sống, văn hóa làm việc, điều kiện sinh hoạt cũng như kinh nghiệm và định hướng nghiên cứu của mỗi cá nhân.

Anh Hiếu phân tích, với những nhà nghiên cứu trẻ còn ít kinh nghiệm, đặc biệt là những người mới hoàn thành chương trình tiến sĩ, xu hướng chung là tìm kiếm thêm thành tích khoa học và tích lũy kinh nghiệm nghiên cứu ở nước ngoài - nơi vốn đã có đầy đủ điều kiện để an tâm làm việc và phát triển chuyên môn.

Trong khi đó, những chuyên gia có nhiều kinh nghiệm hơn, đã có vị trí nhất định trong lĩnh vực chuyên môn và đủ khả năng xây dựng một cơ sở nghiên cứu hoặc độc lập triển khai một hướng nghiên cứu cụ thể có lẽ sẽ thuận lợi hơn trong việc trở về nước cống hiến. Tuy nhiên, cũng cần lưu ý rằng, với nhóm này, nếu việc quay về khiến họ cảm thấy chưa thực sự phù hợp, họ cũng có khả năng quay trở lại nước ngoài dễ dàng hơn, nhưng cũng có những trường hợp có thể đảm nhiệm song song công việc ở cả Việt Nam và nước ngoài – điều mà các nhà nghiên cứu trẻ sẽ gặp nhiều khó khăn hơn để thực hiện.

Bên cạnh các yếu tố chuyên môn, theo Tiến sĩ Hiếu, môi trường sống và chất lượng cuộc sống cũng là những yếu tố có tác động không nhỏ đến quyết định của các chuyên gia, đặc biệt là những người đang công tác ở nước ngoài. Để tạo ra sức hút đủ lớn, Việt Nam cần có sự phát triển và cải thiện đồng bộ nhiều yếu tố liên quan, từ hạ tầng, dịch vụ xã hội đến điều kiện sinh hoạt. Đây rõ ràng là quá trình đòi hỏi thời gian và không thể đạt được trong một sớm một chiều.

Với hàng loạt ưu đãi về thuế, điều kiện sống, môi trường làm việc và cơ hội tham gia các chương trình khoa học công nghệ quốc gia, anh Hiếu cũng cho rằng, Luật Công nghệ cao 2025 chắc chắn sẽ thu hút được sự chú ý rất lớn từ cộng đồng chuyên gia trong và ngoài nước.

Tuy nhiên, bên cạnh các ưu đãi đã được luật hóa, anh Hiếu nhấn mạnh rằng văn hóa làm việc và điều kiện làm việc cũng là những yếu tố cần đặc biệt quan tâm. Trên thực tế, không chỉ người lao động nói chung mà nhất là các chuyên gia đang làm việc trong môi trường chuyên nghiệp ở nước ngoài đều mong muốn được trở về làm việc trong một môi trường chuyên nghiệp, minh bạch, được cộng tác với những người tài năng để cùng học hỏi và phát triển. Vai trò của đội ngũ quản lý vì thế trở nên hết sức quan trọng, nhằm tạo sự yên tâm để các chuyên gia có thể cống hiến lâu dài mà không lo bị chèn ép hay không được đánh giá đúng với năng lực của mình.

“Dù vẫn còn không ít khó khăn, thách thức trước mắt, việc có các chính sách lần này cho thấy Nhà nước đang nỗ lực rất lớn trong việc hỗ trợ tối đa cho đội ngũ chuyên gia, nhà khoa học về lĩnh vực công nghệ cao, công nghệ chiến lược. Cá nhân tôi thực sự cảm thấy biết ơn vì điều đó và hy vọng sẽ có ngày càng nhiều nhân tài giỏi trở về đóng góp cho Việt Nam trong thời gian tới”, anh Hiếu bày tỏ.

Trong khi đó, Tiến sĩ Trần Ngọc Vĩnh – Nghiên cứu viên tại Đại học Michigan (Hoa Kỳ) cho rằng, các chính sách đãi ngộ nêu trên có thể xem là một bước thay đổi tương đối lớn. Tuy vậy, hiện mọi thứ mới chỉ đang ở giai đoạn khởi đầu và chưa được kiểm chứng một cách cụ thể thông qua các con số thực tế (về đãi ngộ) cũng như những kế hoạch triển khai rõ ràng. Trên thực tế, đội ngũ chuyên gia, nhà khoa học có năng lực đang công tác ở nước ngoài thường quan tâm nhiều hơn đến những con số cụ thể và hành động thực chất.

Theo Tiến sĩ Trần Ngọc Vĩnh, những điểm mới trong Luật Công nghệ cao lần này trước mắt có thể tạo điều kiện thuận lợi cho việc hợp tác nghiên cứu từ xa, trong trường hợp Việt Nam mở rộng hơn nữa các chính sách liên quan, đặc biệt là các chính sách hỗ trợ chuyên gia nghiên cứu đang làm việc ở nước ngoài.

Việc trở về quê hương để cống hiến sẽ phụ thuộc rất lớn vào từng nhóm đối tượng cụ thể. Với những người vừa tốt nghiệp, đây có thể là một lựa chọn khả thi nếu nhận được các lời mời đủ hấp dẫn tại Việt Nam. Tuy nhiên, đối với những người đã có sự nghiệp ổn định, nền tảng kinh tế vững chắc và cuộc sống an cư ở nước ngoài, câu chuyện sẽ phức tạp hơn nhiều. Để có thể đánh đổi sự ổn định đó, các chính sách rõ ràng không chỉ dừng lại ở ưu đãi thuế hay điều kiện sống, mà còn phải gắn với lộ trình nghề nghiệp, định hướng phát triển lâu dài trong tương lai – những yếu tố cần được bảo đảm một cách bền vững.

572042905-4087565291388785-2123087620715184880-n.jpg
Tiến sĩ Trần Ngọc Vĩnh – Nghiên cứu viên tại Đại học Michigan (Hoa Kỳ). Ảnh: NVCC.

Từ góc nhìn này, Tiến sĩ Vĩnh cho rằng, các “quy định mới” trong Luật Công nghệ cao có thể chưa tạo ra sức hút ngay lập tức đối với đông đảo chuyên gia, nhà khoa học người Việt đang làm việc ở nước ngoài, đặc biệt là nhóm có trình độ cao và vị thế nghề nghiệp đã được khẳng định.

Bên cạnh các chính sách ưu đãi đã được luật hóa, theo Tiến sĩ Trần Ngọc Vĩnh, Việt Nam vẫn còn rất nhiều việc cần tiếp tục triển khai một cách cụ thể và đồng bộ hơn.

“Câu hỏi đặt ra sau khi Luật được ban hành và có hiệu lực là: ai sẽ là người trực tiếp tuyển dụng, công việc cụ thể ra sao, vị trí việc làm như thế nào và chế độ đãi ngộ dành cho nguồn nhân lực công nghệ cao sẽ được thực hiện đến đâu? Thực tế hiện nay cho thấy, Việt Nam vẫn còn nhiều thách thức trong khả năng triển khai các chính sách này trên quy mô lớn.

Rõ ràng, sức hút ban đầu luôn tồn tại bởi quê hương bao giờ cũng là nơi mỗi người mong muốn được trở về. Tuy nhiên, sự thiếu rõ ràng trong khâu triển khai cũng như số lượng doanh nghiệp, tổ chức có đủ năng lực “thực hiện” các chính sách này tại Việt Nam hiện vẫn còn khá hạn chế”, Tiến sĩ Trần Ngọc Vĩnh chia sẻ.

Những yếu tố then chốt để họ không bị thiệt thòi so với mặt bằng đãi ngộ của thị trường quốc tế

Cùng bàn về những chính sách trên, Giáo sư, Tiến sĩ Bùi Tiến Thành – Trưởng khoa Công trình, Trường Đại học Giao thông vận tải đánh giá, việc luật hóa mức ưu đãi thuế thu nhập cá nhân cao nhất là một cam kết thiết thực, trực tiếp giải quyết bài toán “thu nhập thực tế” cho đội ngũ chuyên gia. Đây là yếu tố then chốt giúp họ yên tâm cống hiến mà không bị thiệt thòi so với mặt bằng đãi ngộ của thị trường quốc tế.

Theo Giáo sư Thành, không chỉ dừng lại ở thu nhập, các cơ chế mới còn mang ý nghĩa khẳng định vị thế và đẳng cấp chuyên môn của nhân lực công nghệ cao. Cơ chế “ưu tiên giao trực tiếp thực hiện các nhiệm vụ khoa học” thể hiện sự tin tưởng và công nhận của Nhà nước đối với người tài. Thay vì phải tham gia các quy trình đấu thầu phức tạp, các chuyên gia được Nhà nước chủ động “đặt hàng” thực hiện nhiệm vụ khoa học, công nghệ trọng điểm. Cùng với đó, chính sách hỗ trợ đào tạo nâng cao năng lực nghiên cứu và bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ cho thấy định hướng lâu dài của Nhà nước trong việc giúp các chuyên gia phát triển bền vững, thay vì chỉ khai thác kết quả trong ngắn hạn.

Đặc biệt, quyền được hỗ trợ sử dụng phòng thí nghiệm dùng chung và các cơ sở nghiên cứu công nghệ cao được xem là giải pháp cho “điểm nghẽn” lớn nhất đối với các nhà khoa học, công nghệ khi trở về nước, đó là thiếu trang thiết bị nghiên cứu đạt chuẩn quốc tế. Theo Giáo sư Thành, đây chính là động lực mang tính thực chất để các chuyên gia yên tâm mang tri thức, công nghệ tích lũy được ở nước ngoài về Việt Nam nghiên cứu, phát triển và thương mại hóa.

image.jpg
Giáo sư, Tiến sĩ Bùi Tiến Thành – Trưởng khoa Công trình, Trường Đại học Giao thông vận tải. Ảnh: Trà My

Tuy nhiên, thầy Thành cũng lưu ý rằng, để các chính sách phát huy hiệu quả, cần có sự linh hoạt trong cơ chế quản lý khoa học và công nghệ. Các chuyên gia R&D cần một không gian đủ rộng để chấp nhận rủi ro và thất bại – vốn là điều không thể tránh khỏi trong nghiên cứu khoa học. Do đó, nếu cơ chế quản lý quá cứng nhắc, chỉ chăm chăm vào "thành công ngay lập tức" sẽ khiến họ sẽ sớm nản lòng. Nếu khoa học xã hội cần có cơ chế thử nghiệm thì khoa học tự nhiên và công nghệ cũng cần có khoảng cho những thử sai.

Từ đó, Giáo sư Bùi Tiến Thành cho rằng cần trao quyền tự chủ tối đa cho các chuyên gia trong việc quyết định hướng nghiên cứu cũng như sử dụng ngân sách, đồng thời giảm thiểu các quy trình xin – cho và thủ tục hành chính rườm rà, không cần thiết. Song song với đó, cần xây dựng các cộng đồng học thuật theo mô hình “hub” (trung tâm), có khả năng kết nối các chuyên gia trở về nước với mạng lưới học thuật, nghiên cứu trong nước và quốc tế, tránh để họ rơi vào tình trạng bị cô lập sau khi hồi hương.

Bên cạnh vấn đề nghiên cứu, Giáo sư Thành cũng nhấn mạnh yếu tố thị trường. Theo đó, việc thu hút nhân tài về nước để tạo ra các “sản phẩm” khoa học – công nghệ là rất cần thiết, nhưng nếu không có thị trường tiêu thụ, đặc biệt là từ khu vực công, thì các công nghệ này sẽ khó tồn tại lâu dài. Do đó, cần có chính sách ưu tiên mua sắm công đối với các sản phẩm công nghệ cao nội địa do chính đội ngũ chuyên gia này phát triển, qua đó tạo đầu ra ổn định và khuyến khích hoạt động đổi mới sáng tạo.

Ngoài ra, với những công nghệ mới, chưa có tiền lệ, thầy Thành đề xuất, cần cho phép các chuyên gia được thử nghiệm trong phạm vi hẹp, có kiểm soát, mà không bị ràng buộc bởi các quy định cũ đã lỗi thời. Bởi, đây là điều kiện cần thiết để các ý tưởng mới có cơ hội được kiểm chứng, hoàn thiện và từng bước đi vào thực tiễn, góp phần thúc đẩy hệ sinh thái khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo của Việt Nam phát triển bền vững.

Luật Công nghệ cao số 133/2025/QH15 quy định, nhân lực công nghệ cao bao gồm:

Người Việt Nam, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, người nước ngoài có trình độ chuyên môn, kỹ năng cao, có năng lực nghiên cứu và phát triển, làm chủ, chuyển giao hoặc thương mại hóa công nghệ cao, công nghệ chiến lược;

Tổng công trình sư, chuyên gia, nhà khoa học có kinh nghiệm thực tiễn trong phát triển công nghệ cao, sản phẩm công nghệ cao, công nghệ chiến lược và sản phẩm công nghệ chiến lược.

Tường San