Tính đến thời điểm hiện tại, trong số các tỉnh, thành đã công bố môn thi thứ ba của Kỳ thi tuyển sinh vào lớp 10 trung học phổ thông năm học 2026-2027, mới có duy nhất tỉnh Tuyên Quang lựa chọn thi môn Khoa học tự nhiên. Nhiều tỉnh công bố môn thi thứ ba là môn Ngoại ngữ.
Trước đó, Sở Giáo dục và Đào tạo Sơn La từng đề xuất phương án bài thi gồm ba môn Tiếng Anh, Khoa học tự nhiên và Lịch sử – Địa lý, với nội dung tích hợp kiến thức của Tiếng Anh, Vật lí, Hóa học, Sinh học, Lịch sử và Địa lý. Tuy nhiên, đề xuất này sau đó đã được rút lại do chưa phù hợp.[1]
Theo các ý kiến chuyên gia, điều này có thể tạo ra “hiệu ứng dội ngược” (washback effect), khi học sinh chỉ “thi gì học nấy”, từ đó giảm động lực và hứng thú học tập các môn khoa học tự nhiên.
Học sinh có thể xem nhẹ môn Khoa học tự nhiên vì “không thi đến”
Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Nhà giáo ưu tú, Giáo sư, Tiến sĩ Cao Cự Giác – Tổng Chủ biên kiêm Chủ biên sách giáo khoa Khoa học tự nhiên (lớp 6, 7, 8, 9) và sách giáo khoa Hóa học (lớp 10, 11, 12) bộ sách Chân trời sáng tạo bày tỏ: “Nhiều địa phương không chọn môn Khoa học tự nhiên cho kỳ thi tuyển sinh vào lớp 10 trung học phổ thông vô tình có thể tạo ra một "khoảng trống" nguy hiểm trong định hướng giáo dục toàn diện, mà hệ lụy lớn nhất là sự đứt gãy giữa mục tiêu chương trình và thực tế học tập.
Khi một môn học không xuất hiện trong kỳ thi mang tính bước ngoặt, theo quy luật "thi gì học nấy", nó nghiễm nhiên bị hạ cấp xuống hàng "môn phụ", dẫn đến tâm lý học lệch và sự suy giảm động lực nghiên cứu ở cả người dạy lẫn người học. Điều này có thể sẽ làm ảnh hưởng mục tiêu của Chương trình giáo dục phổ thông 2018 vốn chú trọng phát triển tư duy tích hợp và năng lực giải quyết vấn đề thực tiễn – những kỹ năng chỉ có được khi học sinh kết nối được kiến thức Vật lý, Hóa học và Sinh học thành một chỉnh thể.
Lỗ hổng này không chỉ khiến học sinh hổng kiến thức nền tảng về thế giới tự nhiên mà còn tạo ra vấn đề khi các em lên bậc trung học phổ thông. Việc chọn tổ hợp môn ở lớp 10 sẽ trở nên cảm tính và thiếu cơ sở năng lực, gây khó khăn cho việc định hướng nghề nghiệp trong các lĩnh vực trọng yếu như y dược, kỹ thuật hay công nghệ cao.
Cuối cùng, một thế hệ học sinh chỉ tập trung vào các môn công cụ (Toán, Ngữ Văn, Tiếng Anh) mà thiếu đi tư duy khoa học thực nghiệm sẽ là một vấn đề cho mục tiêu đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao trong kỷ nguyên số”.
Cùng bàn luận về chủ đề này, thầy Ngô Xuân Quỳnh – giáo viên môn Hóa học của Trường Trung học phổ thông Phan Đình Phùng (Hà Nội) chỉ ra: “Sở Giáo dục và Đào tạo Sơn La dừng phương án thi tuyển sinh lớp 10 bằng bài thi tổ hợp 6 môn không đơn thuần là một điều chỉnh kỹ thuật trong tổ chức thi cử. Nếu nhìn sâu hơn, theo tôi đây là một chỉ dấu đáng lo ngại khi sự an toàn ngắn hạn và nỗi lo rủi ro dư luận được đặt lên trên mục tiêu phát triển năng lực dài hạn cho người học.
Một ngộ nhận phổ biến cho rằng tuyển sinh chỉ là cách chọn học sinh, không phản ánh triết lý giáo dục. Thực tế hoàn toàn ngược lại. Trong giáo dục phổ thông, kỳ thi quyết định trực tiếp nội dung dạy và học. Môn nào xuất hiện trong kỳ thi sẽ trở thành trung tâm, môn nào vắng mặt sẽ bị đẩy xuống vai trò phụ.
Khi Toán, Ngữ Văn và Ngoại ngữ trở thành trục đánh giá chính thức hoặc không chính thức, Khoa học tự nhiên dần bị đẩy ra khỏi vùng “bắt buộc phải đầu tư”.
Theo thầy Quỳnh, lập luận được dùng nhiều nhất để phản đối bài thi tổ hợp là học sinh không chịu nổi khối lượng kiến thức. Nghe có vẻ hợp lý nhưng thực chất sai ngay từ gốc. Số môn không phản ánh mức độ nặng nhẹ của một kỳ thi.
Một bài thi tổ hợp được thiết kế đúng không đòi hỏi học sinh học sâu từng môn riêng lẻ, mà nhằm đánh giá khả năng đọc hiểu, tư duy khoa học cơ bản cũng như năng lực liên hệ và vận dụng kiến thức nền. 80 câu trắc nghiệm tích hợp không đồng nghĩa với 6 chương trình riêng biệt, càng không phải là 6 môn thi độc lập được cộng cơ học vào nhau.
Thực tế, cảm giác quá tải của học sinh không đến từ khoa học hay liên môn, mà từ cách dạy và cách thi còn nặng tính rời rạc, ghi nhớ chi tiết và làm đúng các dạng bài quen.
Nguy cơ học sinh mất đi nền tảng hình thành năng lực
Thầy Ngô Xuân Quỳnh cho hay, ở lứa tuổi trung học cơ sở, học sinh chưa có đủ trải nghiệm để tự xác định đam mê nghề nghiệp. Việc học của các em chủ yếu dựa vào cấu trúc và tín hiệu mà hệ thống giáo dục tạo ra. Khi hệ thống phát đi thông điệp rằng khoa học tự nhiên không phải yếu tố quyết định ở ngưỡng cửa lớp 10, việc học sinh “rẽ khỏi khoa học” trở thành hệ quả tất yếu, chứ không đơn thuần là lựa chọn cá nhân.
Thực tế hiện nay đã rất đáng báo động khi nhiều học sinh bước vào trung học phổ thông nhưng không nắm được bản chất các khái niệm khoa học cơ bản, khả năng lập luận, trình bày và giải thích hiện tượng tự nhiên. Đồng thời không ít em hình thành tâm lý sợ Hóa học, Vật lý, Sinh học ngay từ đầu cấp trung học phổ thông, không hẳn vì môn học quá khó mà vì nền móng đã bị rỗng từ trước.
Có ý kiến cho rằng lên trung học phổ thông rồi đại học, học sinh sẽ tự chọn tổ hợp và chuyên ngành phù hợp, em nào giỏi khoa học tự nhiên thì sẽ theo khoa học tự nhiên. Lập luận này nghe có vẻ hợp lý, nhưng thực tiễn giáo dục cho thấy điều ngược lại: khi thiếu nền tảng ở trung học cơ sở, học sinh không còn đủ năng lực để lựa chọn. Các em không phải là không thích khoa học, mà là không dám chọn vì sợ không theo kịp, và rất nhiều cánh cửa nghề nghiệp đã âm thầm khép lại từ lớp 8, lớp 9, trước khi học sinh kịp hiểu mình có những khả năng gì.
Do đó, theo thầy Quỳnh, việc đưa môn Khoa học tự nhiên vào kỳ thi không phải để ưu ái một nhóm học sinh nào, mà nhằm giữ môn học này ở vị trí “không được phép bỏ” trong giai đoạn hình thành năng lực.
Khoa học tự nhiên không chỉ nhằm đào tạo nhà khoa học, mà cốt lõi là đào tạo tư duy khoa học, bao gồm logic, mô hình hóa, giải quyết vấn đề và tư duy hệ thống. Một xã hội muốn phát triển công nghiệp, công nghệ, y sinh, môi trường, trí tuệ nhân tạo hay năng lượng đều không thể thiếu nền tảng khoa học tự nhiên được hình thành từ bậc phổ thông. Kiến thức khoa học không phải để ghi nhớ đơn thuần, mà quan trọng hơn là để hình thành tư duy.
Khi nói đến mục tiêu nuôi dạy con người toàn diện cả trí tuệ, thể chất và tinh thần, giáo dục khoa học tự nhiên càng không thể bị xem nhẹ. Khoa học tự nhiên không chỉ rèn luyện tư duy, mà còn hình thành ở người học tính trung thực, sự tôn trọng sự thật, tinh thần kiểm chứng và trách nhiệm với kết luận của chính mình.
Ở bậc trung học cơ sở, khoa học tự nhiên không nhằm tạo ra các nhà khoa học tương lai, mà rèn cho học sinh khả năng quan sát, lập luận, suy luận nhân quả, giải thích hiện tượng và giải quyết vấn đề; những năng lực này không thể hình thành nếu chỉ học đối phó hay “xem lại khi cần”, và cũng không thể bù đắp khi nền tảng ban đầu đã bị bỏ trống.
Hệ quả dài hạn của quyết định này có thể không nhìn thấy ngay, nhưng chắc chắn sẽ để lại hệ lụy Khi khoa học không còn là trọng tâm đánh giá, việc dạy học khoa học ở bậc trung học cơ sở có thể sẽ bị ảnh hưởng.
Đồng thời, học sinh bị phân luồng sớm khi chưa kịp hiểu khoa học là gì, chưa kịp nhận ra năng lực của bản thân, đã bị đẩy sang những lựa chọn an toàn, ít thách thức. Đây không phải là phân luồng đúng nghĩa, mà là loại bỏ sớm những năng lực tiềm ẩn.
Theo Giáo sư Cao Cự Giác, để khơi dậy ngọn lửa đam mê khoa học tự nhiên trong lòng thế hệ trẻ, chúng ta cần thực hiện một cuộc cách mạng từ tư duy "giải bài tập" sang tư duy "giải quyết vấn đề". Giải pháp tiên quyết là phải "phá bỏ bức tường" ngăn cách giữa trang sách và đời thực bằng cách đưa học tập trải nghiệm và giáo dục STEM vào vị trí trung tâm, nơi học sinh không còn là những "cỗ máy ghi nhớ" công thức mà trở thành những nhà thám hiểm trực tiếp lắp ráp mạch điện, nuôi cấy mô tế bào hay nghiên cứu các phản ứng hóa học từ chính gian bếp nhà mình.
Sức hấp dẫn của khoa học phải được thắp lên từ sự tò mò bản năng, thông qua việc đổi mới cách kiểm tra đánh giá theo hướng tôn trọng sự sáng tạo và năng lực vận dụng thay vì những điểm số khô khan.
Quan trọng hơn, chúng ta cần cho các em thấy một "bản đồ tương lai" rực rỡ, nơi kiến thức khoa học tự nhiên chính là chiếc hộ chiếu quyền lực đưa các em bước vào những ngành nghề "triệu đô" như công nghệ bán dẫn, kỹ thuật hàng không hay y sinh hiện đại. Khi học sinh hiểu rằng mỗi tiết học là một bước tiến gần hơn đến việc làm chủ công nghệ và kiến tạo thế giới, các em sẽ học bằng tất cả sự kiêu hãnh và khát khao, biến khoa học tự nhiên từ một "môn thi" áp lực thành một "siêu năng lực" để chinh phục tương lai.
Tài liệu tham khảo:
[1] https://giaoduc.net.vn/so-gddt-son-la-rut-phuong-an-bai-thi-to-hop-vao-lop-10-post257359.gd