Trong bối cảnh hiện nay, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là một trong những động lực trung tâm cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Các cơ sở giáo dục đại học trên cả nước đã và đang đẩy mạnh các hoạt động nghiên cứu khoa học và công bố quốc tế.
Nhờ đó, số lượng bài báo khoa học đã có sự cải thiện nhưng hoạt động chuyển giao khoa học - công nghệ, gắn nghiên cứu với kết nối doanh nghiệp để ứng dụng tri thức vào thực tiễn vẫn gặp nhiều khó khăn khiến nguồn thu từ khoa học và công nghệ còn khiêm tốn.
Số lượng bài báo quốc tế của ĐHQG TPHCM tăng nhưng nguồn thu từ khoa học - công nghệ giảm
Tại Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, theo báo cáo thường niên năm 2025, số lượng công bố quốc tế trên các tạp chí uy tín của đơn vị này liên tục tăng trong các năm gần đây.
Cụ thể, số lượng các bài báo nằm trong danh mục Scopus của Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh năm 2021 là 1.861 bài. Con số này trong năm 2022 tăng lên 2.345 bài; năm 2023 tiếp tục tăng lên 2.790 bài, đến năm 2024 là 3.168 bài. Tính đến tháng 10/2025, số lượng bài báo quốc tế của trường đã đạt 3.288 bài.
Tuy nhiên, trái với sự tăng trưởng ổn định của số lượng công bố bài báo quốc tế, doanh thu từ chuyển giao khoa học công nghệ của trường lại không đồng đều, với xu hướng giảm dần thể hiện trong 3 năm gần đây đều thấp hơn năm 2022.
Theo đó, năm 2022, doanh thu từ chuyển giao khoa học công nghệ của Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh ghi nhận mức tăng đột phá từ 220,4 tỷ đồng (năm 2021) lên 319,3 tỷ đồng.
Tuy nhiên, những năm sau đó, chỉ số này lại không ổn định với năm 2023 giảm còn 228,5 tỷ đồng, năm 2024 là 294,7 tỷ đồng và tính đến tháng 10/2025 là 269,7 tỷ đồng.
Là một trường đại học thành viên của Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Trần Vũ - Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Bách khoa khẳng định, việc gia tăng số lượng bài báo quốc tế trong các cơ sở giáo dục đại học Việt Nam thời gian qua là một xu hướng mang tính hệ thống.
Theo thầy Vũ, công bố khoa học hiện đang được sử dụng như thước đo chủ đạo trong nhiều khâu, từ đánh giá hoạt động nghiên cứu, xếp hạng đại học, đến xét chức danh khoa học và đào tạo tiến sĩ. Khi công bố trở thành chỉ tiêu trung tâm, phần lớn nguồn lực nghiên cứu tự nhiên được dồn cho mục tiêu này.
Hệ quả là số lượng sản phẩm khoa học - công nghệ có khả năng ứng dụng và thương mại hóa, vốn đòi hỏi thời gian dài hơn, chi phí cao hơn và rủi ro lớn hơn, vẫn còn hạn chế. Đây không phải là vấn đề của từng cá nhân hay từng cơ sở, mà phản ánh cách thức chúng ta đang thiết kế hệ thống mục tiêu và cơ chế khuyến khích cho hoạt động khoa học - công nghệ.
Công bố khoa học vẫn là một sản phẩm quan trọng và không thể thiếu của nghiên cứu. Tuy nhiên, trong bối cảnh Việt Nam đang thúc đẩy làm chủ các công nghệ chiến lược, cần nhìn nhận các sản phẩm khoa học - công nghệ có khả năng ứng dụng thực tiễn và thương mại hóa như một trụ cột song hành, chứ không phải thứ yếu.
Điều này đòi hỏi các đơn vị phải rà soát và điều chỉnh lại hệ thống mục tiêu, tiêu chí đánh giá và cơ chế khuyến khích để tạo sự cân bằng hợp lý giữa “công bố” và “tạo ra giá trị từ tri thức.
Cũng theo Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Bách khoa, Đại học Quốc gia Hồ Chí Minh, đối với các trường đại học công lập, rào cản lớn nhất trong thương mại hóa sản phẩm khoa học và công nghệ xuất phát từ việc kết quả nghiên cứu được xem là tài sản công, chịu sự điều chỉnh chặt chẽ của các cơ chế quản lý hiện hành.
Theo thầy Vũ, trước hết, khung chính sách về quản lý, khai thác và phân chia lợi ích từ tài sản trí tuệ hình thành từ ngân sách nhà nước còn nhiều điểm chưa theo kịp thực tiễn đổi mới sáng tạo. Điều này khiến các trường và nhà khoa học có xu hướng lựa chọn phương án an toàn về mặt thủ tục, nhưng khó thúc đẩy thương mại hóa ở quy mô lớn hoặc tạo đột phá.
Tiếp đó, hạ tầng nghiên cứu – phát triển tại nhiều trường đại học được đầu tư dàn trải, thiếu tính đồng bộ, nên chưa đáp ứng tốt yêu cầu thử nghiệm, hoàn thiện và chuẩn hóa công nghệ theo nhu cầu thực tiễn của doanh nghiệp.
Một điểm nghẽn khác là khoảng trống tài chính ở giai đoạn hoàn thiện công nghệ – giai đoạn chuyển tiếp quan trọng giữa nghiên cứu và thương mại hóa, vốn đòi hỏi nguồn lực cho thử nghiệm, tối ưu và chứng minh tính khả thi trên thị trường nhưng lại rất khó tiếp cận vốn.
Ngoài ra, năng lực quản trị công nghệ và thương mại hóa còn hạn chế: các trường đại học có thế mạnh nghiên cứu nhưng thiếu đội ngũ chuyên nghiệp về định giá công nghệ, quản trị tài sản trí tuệ, đàm phán chuyển giao và gọi vốn; không thể kỳ vọng nhà khoa học đồng thời đảm nhiệm vai trò doanh nhân.
Cuối cùng, mối liên kết với doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp có năng lực R&D, vẫn chưa thực sự hiệu quả do sự khác biệt về mục tiêu, nhịp độ và cách tiếp cận giữa nghiên cứu khoa học và hoạt động sản xuất – kinh doanh.
“Nếu tháo gỡ được các điểm nghẽn then chốt về chính sách, nguồn tài chính trung gian và xây dựng được đội ngũ chuyên nghiệp hoạt động thương mại hóa, các trường đại học hoàn toàn có thể vươn lên trở thành chủ thể trung tâm của hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, thay vì chỉ dừng lại ở vai trò tạo ra tri thức”, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Bách khoa, Đại học Quốc gia Hồ Chí Minh bày tỏ.
Cần đẩy mạnh hoạt động đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp, tăng cường kết nối doanh nghiệp
Chia sẻ về các mô hình và cách tiếp cận trong quá trình triển khai chuyển giao và thương mại hóa kết quả nghiên cứu, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Trần Vũ cho biết, trong điều kiện thực tiễn hiện nay, Trường Đại học Bách khoa, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh chủ yếu lựa chọn ba hướng tiếp cận.
Thứ nhất là chuyển giao công nghệ hoặc cung cấp dịch vụ tư vấn trực tiếp cho doanh nghiệp đối với những kết quả nghiên cứu đã sẵn sàng ứng dụng. Đây là mô hình tương đối an toàn, mang lại hiệu quả trong ngắn hạn, tuy nhiên khi doanh nghiệp chỉ tham gia ở giai đoạn cuối của chuỗi giá trị, mức độ gia tăng giá trị cũng như khả năng làm chủ công nghệ lâu dài của nhà trường còn ở mức hạn chế.
Thứ hai là mô hình đồng nghiên cứu – phát triển với doanh nghiệp theo hình thức đặt hàng, trong đó doanh nghiệp tham gia ngay từ khâu xác định bài toán nghiên cứu và bố trí kinh phí thực hiện. Cách tiếp cận này giúp các kết quả nghiên cứu bám sát nhu cầu thị trường, đồng thời giảm thiểu rủi ro trong quá trình thương mại hóa, song lại đòi hỏi một khung pháp lý rõ ràng, đặc biệt liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ và cơ chế phân chia lợi ích.
Thứ ba là định hướng khởi nghiệp công nghệ, hình thành các doanh nghiệp spin-off từ kết quả nghiên cứu. Đây được xem là hướng đi cần thiết để phát triển các công nghệ lõi, nhưng thực tiễn cho thấy nhà khoa học khó có thể đơn độc đảm nhiệm vai trò doanh nhân; mô hình này chỉ thực sự bền vững khi được đặt trong một hệ sinh thái hỗ trợ chuyên nghiệp, bao gồm ươm tạo, đầu tư, tư vấn pháp lý và quản trị doanh nghiệp.
Để cân bằng giữa mục tiêu công bố quốc tế và mục tiêu tạo ra sản phẩm, công nghệ có giá trị ứng dụng thực tiễn, thầy Vũ nhấn mạnh Trường Đại học Bách khoa, Đại học Quốc gia Hồ Chí Minh đã có sự chuyển dịch rõ ràng trong định hướng và cơ chế khuyến khích, từ việc chủ yếu tập trung vào hỗ trợ công bố quốc tế sang song song thúc đẩy phát triển các sản phẩm khoa học – công nghệ mang tính chiến lược và có khả năng ứng dụng thực tiễn.
“Nhà trường ưu tiên hình thành và phát triển các nhóm nghiên cứu mạnh, nhóm nghiên cứu tiềm năng trong các lĩnh vực công nghệ chiến lược, đồng thời tăng cường hỗ trợ về hạ tầng, trang thiết bị và điều kiện nghiên cứu để tạo ra các kết quả có chiều sâu, có lộ trình phát triển công nghệ rõ ràng.
Trong cơ chế đánh giá giảng viên và nhà khoa học, trường từng bước mở rộng hệ tiêu chí, không chỉ xem công bố khoa học là thước đo duy nhất, mà đánh giá một cách hài hòa giữa công bố quốc tế với các sản phẩm khoa học – công nghệ có giá trị ứng dụng, khả năng chuyển giao và thương mại hóa.
Song song với đó, trường đẩy mạnh các hoạt động đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp công nghệ, thông qua Trung tâm Ươm tạo Doanh nghiệp Công nghệ cùng các trung tâm và doanh nghiệp công nghệ trực thuộc, nhằm tạo môi trường và động lực để giảng viên, nhà khoa học chủ động đưa kết quả nghiên cứu vào ứng dụng thực tiễn”, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Trần Vũ thông tin.
Cùng chia sẻ về vấn đề này, lãnh đạo một trường đại học đào tạo lĩnh vực kỹ thuật khu vực phía Bắc cho rằng, cần có những chính sách đặc biệt để mô hình liên kết “3 nhà”: nhà nước - nhà trường - nhà doanh nghiệp phát huy hiệu quả, nhằm thúc đẩy quá trình thương mại hóa các sản phẩm khoa học công nghệ trong cơ sở giáo dục đại học.
Theo đó, cần có cơ chế, chính sách đặt hàng và đồng tài trợ rõ ràng giữa nhà nước và doanh nghiệp, trong đó nhà nước hỗ trợ kinh phí cho các nghiên cứu thử nghiệm, hoàn thiện công nghệ, còn doanh nghiệp cam kết đầu ra và cùng chia sẻ rủi ro, tránh tình trạng kết quả nghiên cứu chỉ dừng ở mức "trình diễn", gây lãng phí nguồn lực.
Đồng thời, cần tăng cường kết nối hai chiều giữa nhà trường và doanh nghiệp, gắn trách nhiệm và lợi ích của các bên ngay từ khâu nghiên cứu đến thương mại hóa, qua đó nâng cao tính khả thi và rút ngắn thời gian đưa sản phẩm ra thị trường.
Không những vậy, việc xây dựng cơ chế quản lý và chia sẻ lợi ích về sở hữu trí tuệ cần được thực hiện minh bạch, rõ ràng, tạo niềm tin và động lực để doanh nghiệp tham gia sâu vào quá trình thương mại hóa các sản phẩm khoa học và công nghệ.